Lịch sử thế giới

Sự cố Tây An 1936: Bước ngoặt của lịch sử Trung Quốc hiện đại

Sự cố Tây An gây chấn động thế giới lúc bấy giờ là cuộc binh biến bắt giữ Tưởng Giới Thạch tại Tây An do Trương Học Lương và Dương Hổ Thành thực hiện, nhằm gây áp lực buộc Tưởng hợp tác với Đảng Cộng sản chống Đế quốc Nhật Bản vào ngày 12 tháng 12 năm 1936, khi Tưởng đến Tây An.
73

Năm 1932, việc thành lập nhà nước bù nhìn Mãn Châu Quốc ở đông bắc Trung Quốc và Trận chiến ở Thượng Hải đã phản ánh rõ ràng ý định của Nhật Bản muốn xâm lược Trung Quốc. Bất chấp những dấu hiệu gây hấn này, nhà lãnh đạo Trung Quốc theo chủ nghĩa dân tộc Tưởng Giới Thạch vẫn tiếp tục tập trung phần lớn sức lực của mình vào việc thống nhất Trung Quốc. Đặc biệt tiêu diệt tận gốc ảnh hưởng của Cộng sản vốn chỉ còn ít tàn quân sau 5 chiến dịch hợp vây, trước khi ông có cơ hội chống lại người Nhật.

Ban lãnh đạo Cộng sản, đứng đầu là Chu Ân Lai, Mao Trạch Đông và những người khác, cũng có chung suy nghĩ. Họ không quan tâm nhiều đến những bước tiến của Nhật Bản, vì mỗi chiến thắng của Nhật Bản lại làm suy yếu lực lượng Quốc dân đảng thêm một chút, do đó giúp cho Cộng sản có thêm lợi thế.

Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai
Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai.

Vào thời điểm này, những người Cộng sản, bị coi không khác gì một lực lượng cướp, đang bị bao vây trong một khu vực hoang vắng ở Trung Quốc, sống sót chỉ vì Liên Xô (USSR) hỗ trợ đồng thời  bắt giữ con trai của Tưởng làm con tin ở thủ đô của Nga. Matxcơva, đã  ảnh hưởng nhằm ngăn quân Tưởng tung ra bất kỳ cuộc tấn công quyết định nào.

Nhà lãnh đạo Liên Xô Joseph Stalin có mục tiêu lâu dài là thành lập một chế độ bù nhìn ở Trung Quốc, nhưng trước mắt, ông ta ủng hộ phe Quốc dân vì quân của Tưởng là lực lượng duy nhất có cơ hội chống lại Nhật Bản. Nếu phe Quốc gia thất bại, Stalin lo sợ rằng Nhật Bản sẽ có thể dành toàn bộ bộ máy quân sự của mình trong một chiến dịch chống lại tham vọng của Nga ở châu Á.

Trương Học Lương,  một cựu lãnh chúa Trung Quốc có ảnh hưởng ở vùng đông bắc Trung Quốc và hiện là tướng trong Quân đội Trung Hoa Quốc dân Đảng, là người ủng hộ mặt trận Quốc dân-Cộng sản thống nhất chống lại sự xâm lược của Nhật Bản. Vì khuynh hướng này, ông đã bí mật tiếp xúc với những người Cộng sản bất chấp mối quan hệ với quân đội Quốc gia. Vào giữa năm 1936, ông ta tiếp cận giới lãnh đạo Cộng sản và đề xuất ý tưởng bắt cóc Tưởng  để buộc những người Quốc dân đảng tham gia thảo luận với Cộng sản. 

Mao hơn ai hết muốn nhìn thấy Tưởng bị giết để đạt được tham vọng cá nhân của mình, đã nói với Trương Học Lương để tiếp tục kế hoạch của mình, rằng Liên Xô cũng sẽ ủng hộ kế hoạch của ông, điều này thực tế là dối trá.

Vào ngày 22 tháng 10 năm 1936, tại Tây An, Trung Quốc, Tưởng công bố kế hoạch mới của mình để trấn áp những người Cộng sản. Trương và Trương Hổ Thành, một vị tướng cùng chí hướng, đã công khai phản đối chính sách mới, và trong tháng sau đó đã cố gắng thuyết phục Tưởng thay đổi ý định. Vào đầu tháng 12, họ quyết định rằng thời gian thảo luận đã kết thúc, và bây giờ là lúc thực hiện kế hoạch bắt cóc. Vào sáng sớm ngày 12 tháng 12, Cận vệ của Trương  đã mật kích vào nơi ở của Tưởng ở Tây An, nơi được canh phòng tương đối cẩn thận. Trong cuộc đối đầu ngắn ngủi, cháu trai và vệ sĩ của Tưởng là Jiang Xiaoxian đã bị giết ngay tại hiện trường, và Bộ trưởng Tuyên truyền Shao Yuanchong bị thương dẫn đến cái chết vài ngày sau đó. 

Một số đối thủ của Tưởng bắt đầu kêu gọi xử tử Tưởng vì những thất bại của ông trong việc đối phó với quân Nhật. Tưởng đã trốn vào khu rừng gần đó, chỉ mặc bộ quần áo ngủ vì vừa thức dậy khi kế hoạch được thực hiện, nhưng cuối cùng đã bị phát hiện và bắt giữ.

Vài giờ sau vụ bắt cóc, Trương đã công bố danh sách 8 yêu cầu đối với các nhà lãnh đạo chính trị Trung Quốc ở Trung Quốc và nước ngoài:

– Thành lập một chính phủ liên hiệp bao gồm cả các thành viên Quốc gia và Cộng sản

– Chấm dứt mọi cuộc giao tranh giữa các lực lượng Quốc gia và Cộng sản

– Trả tự do cho tất cả các chính trị gia đang bị giam giữ ở Thượng Hải

– Trả tự do cho tất cả các tù nhân chính trị

– Cho phép các cuộc biểu tình chống Nhật

– Đảm bảo quyền tự do chính trị cho mọi công dân Trung Quốc

– Chính quyền Trung Quốc tái tổ chức như thời Tôn Dật Tiên. 

– Tập hợp ngay lãnh đạo hai bên để bàn cách đối phó với sự xâm lược của Nhật

Ban lãnh đạo Đảng Quốc dân đảng đã bị chia rẽ, trong khi các phe phái cực đoan hơn trong Quốc dân đảng, cụ thể là Hội Áo xanh và phái Hoàng Phố, chuẩn bị quân đội tấn công Tây An để giải cứu Tưởng, một số người khác bắt đầu thảo luận về khả năng xử tử Tưởng vì không đối phó được với quân Nhật. Mặt khác, vợ của Tưởng, Tống Mỹ Linh, đã đích thân cử cố vấn người Úc, người trước đây đã làm việc dưới quyền Trương làm đại diện cá nhân cho các cuộc đàm phán vào ngày 14 tháng 12.

Những người cộng sản cũng bị chia rẽ. Trong khi Mao công khai kêu gọi hành quyết Tưởng, thì Chu Ân Lai và Trương Vệ Kiện nghĩ rằng danh tiếng của Tưởng sẽ bị tổn hại sau vụ việc này và ủng hộ kế hoạch thảo luận của Trương Xương Tiên (do đó cho phép một Tưởng đã suy yếu về chính trị vẫn là lãnh đạo Quốc dân đảng, ngăn cản một nhân vật có tiềm năng mạnh hơn bước lên).

Khi những người Cộng sản đang tranh luận trong nội bộ, Stalin gửi công văn can thiệp, ra lệnh cho Đảng Cộng sản Trung Quốc ngừng yêu cầu xử tử Tưởng và bắt đầu đàm phán. Hồng quân  TQ phụ thuộc vào Liên Xô nhanh chóng thừa nhận các yêu cầu của Liên Xô. Một phái đoàn Cộng sản đã được cử đi vào ngày 17 tháng 12.

Vào ngày 22 tháng 12, Mỹ Linh và anh trai đã đến Tây An để tham gia đàm phán.

Vào ngày 24 tháng 12, Trương đã cố gắng thiết lập một thỏa thuận tế nhị giữa Quốc dân Đảng và Đảng Cộng sản. Hai bên nhất trí đoàn kết trong cuộc chiến chống Nhật và đồng ý rằng Tưởng và các nhà lãnh đạo Quốc dân đảng khác đang bị bắt phải được trả tự do. 

Tưởng Giới Thạch và các thành viên cao cấp của Quốc dân đảng sau Sự cố Tây An
Tưởng Giới Thạch và các thành viên cao cấp của Quốc dân đảng sau Sự cố Tây An. Ảnh wikipedia.

Theo tiết lộ trong nhật ký của Tưởng, Tưởng nghĩ sự kiện này là giai đoạn nhục nhã nhất trong cuộc đời mình. Mặc dù ông có ít ảnh hưởng trong các cuộc đàm phán, nhưng phần lớn ông đã đồng ý ký vào các thỏa thuận, ngừng mọi hoạt động đàn áp chống lại những người Cộng sản cho đến khi Chiến tranh Trung – Nhật lần thứ hai kết thúc vào năm 1945. Tuy nhiên, trong suốt cuộc chiến, Tưởng vẫn làm suy yếu các nỗ lực của Cộng sản bất cứ khi nào có cơ hội; Hồng quân cũng làm như vậy trong cuộc chiến tranh chống Nhật.

Vào ngày 25 tháng 12, Trương đích thân hộ tống Tưởng trở về thủ đô Nam Kinh, nơi có rất đông người tụ tập để chào đón ông. Khi đến Nam Kinh, Trương bị bắt và bị xét xử vì tội phản quốc; trước sự khăng khăng của Tưởng, Trương đã bị xét xử tại một tòa án quân sự chứ không phải là một tòa án dân sự, điều này trên thực tế đảm bảo rằng Trương sẽ bị kết tội. Tuy nhiên, ngay sau phiên tòa, Tưởng đã ân xá cho Trương nhưng Tưởng sẽ quản thúc Trương vô thời hạn. Trương  bị quản thúc tại gia cho đến năm 1990 và qua đời vào năm 2001 mà không tiết lộ thêm bất kỳ chi tiết nào về động cơ đằng sau Sự cố Tây An, do đó đã nảy sinh một số thuyết âm mưu. Trong khi Trương bị quản thúc tại gia, Trương Hổ Thành bị đưa vào nhà tù. Khi những người Quốc dân Đảng đang đứng trước bờ vực thất bại trong cuộc nội chiến trước những người cộng sản Trương cuối cùng bị hành quyết theo lệnh của Tưởng Giới Thạch vào năm 1949, trước khi Quốc dân đảng rút về Đài Loan.

Trong lịch sử Trung Quốc hiện đại, sự cố Tây An thường được cho là có ba hậu quả chính. Về mặt ngắn hạn, liên minh Quốc Cộng miễn cưỡng đã cho người Trung Quốc một nền tảng vững chắc hơn, ít nhất là trên lý thuyết, để chống lại sự xâm lược của Nhật Bản vốn sẽ sớm leo thang trong vòng vài tháng. Hệ quả thứ hai là Đảng Cộng sản Trung Quốc, cho đến thời điểm này vẫn chỉ là một nhóm cướp, giờ đây đã được công nhận là một đảng chính trị đối lập hợp pháp, sẽ sớm được chính phủ Quốc dân đảng trao một phần lãnh thổ. Cuối cùng, sự cố Tây An đã cho những người Cộng sản thời gian và cơ hội để xây dựng sức mạnh của họ thành lực lượng mà một ngày nào đó sẽ thách thức những người Quốc dân Đảng trong một cuộc chiến toàn diện.

Huỳnh Nam Việt

Lịch sử Việt Nam

Sách giáo khoa lịch sử Anh quốc nói về chế độ Việt Nam cộng hòa

Đoạn trích bên dưới được dẫn từ sách giáo khoa lịch sử Anh quốc dành cho học sinh chương trình tú tài quốc tế (tương đương dự bị đại học) của Đại học Oxford. Chương trình được Đại học Oxford áp dụng cho học sinh đầu vào trên toàn thế giới.
6

Tình hình ở miền Nam phức tạp hơn (miền Bắc) do sự tồn tại của nhiều lãnh đạo với những chính sách và kế hoạch khác nhau nhằm ngăn chặn sự lan tỏa của chủ nghĩa cộng sản, nhưng điểm chung của xã hội dưới sự dẫn dắt của những người này đều là hỗn loạn, tham nhũng và cư xử tàn ác đối với những đối tượng được xếp vào hàng kẻ thù quốc gia.

Ban đầu người Pháp muốn duy trì chính quyền Bảo Đại như một chính phủ bù nhìn thân Pháp, nhưng sau đó Pháp đã rút lui và Bảo Đại thì quá nhu nhược. Lo sợ sự bùng nổ của cộng sản, Mỹ đã đứng ra bảo trợ cho miền Nam Việt Nam. Trong những năm cuối của cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất, Mỹ đã viện trợ cho Pháp 3 tỷ đô để chống lại Việt Minh.

Mỹ cần tìm một lãnh đạo cứng rắn hơn cho chính quyền thân Mỹ mà mình dựng nên và tìm thấy một người phù hợp là Ngô Đình Diệm, một người Công giáo theo chủ nghĩa dân tộc, người đã thể hiện sự phản kháng công khai đối với sự cai trị của người Pháp từ những năm 1930.

Dưới sự chỉ đạo của Mỹ, Bảo Đại cho mời Diệm về làm thủ tướng năm 1954. Năm 1955, Diệm hất cẳng (nguyên văn là “ousted“) Bảo Đại và thành lập chính phủ mới ở miền nam. Trong một cuộc trưng cầu dân ý được sắp đặt một cách lộ liễu, người dân miền Nam Việt Nam đã bỏ phiếu để thành lập một chính phủ cộng hòa với Diệm là tổng thống. Sự thống trị ngày càng tham nhũng và tàn bạo của Diệm đã dần khơi dậy những mâu thuẫn ở Việt Nam.

Cuộc trưng cầu dân ý năm 1955 được sắp đặt lộ liễu
Cuộc trưng cầu dân ý năm 1955 được sắp đặt lộ liễu

Xem thêm: Chính quyền VNCH là chính quyền hợp pháp của nhân dân Miền Nam?

Một trong những vấn đề đầu tiên mà Diệm cần giải quyết là sự phân chia ruộng đất. Một số nhóm cấp tiến và ôn hòa chủ trương ủng hộ phân chia lại ruộng đất để nông dân có đủ đất cày. Khi đóng chiếm miền Nam năm 1945, Việt Minh đã giúp người dân phân chia lại khoảng 600 nghìn héc ta đất, nhờ đó mà vô số nông dân được sở hữu đất, chấm dứt việc phải đóng tô.

Năm 1955 Diệm bãi bỏ điều này và bắt nông dân phải tiếp tục đóng tô. Năm 1958, nông dân bắt buộc phải mua đất canh tác với thời hạn 6 năm. Chi phí này rất tốn kém và khiến người nông dân trở nên bất mãn bởi họ đã mặc nhiên coi đó là đất của mình.

Những chính sách của Diệm cho thấy thái độ của ông ta đối với chính quyền miền Bắc. Diệm luôn sống trong trạng thái sợ hãi sự chống đối và việc bị ám sát. Ông ta rất tích cực trong việc loại bỏ bất cứ mối đe dọa nào đối với quyền lực của mình. Năm 1956, Diệm từ chối tổ chức tổng tuyển cử theo hiệp định Giơ ne vơ với lý do rằng những người dân miền Bắc sẽ bị bắt buộc phải bỏ phiếu cho cộng sản.

Diệm bỏ tù các lãnh đạo đối lập và săn lùng các thành viên Việt Minh còn ở lại miền Nam. Ông ta cũng ưu ái Công giáo hơn tôn giáo chính của đất nước là Phật giáo: chỉ có 10% dân số theo Công giáo và chủ yếu là người miền Bắc di cư vào nam trong cuộc di cư Việt Nam năm 1954. Việc ưu ái lợi ích thiểu số dẫn tới những sự bất mãn ngày càng sâu sắc với sự cai trị của ông ta và sự gia tăng của các nhóm chống đối ở ngay trong lòng miền Nam.

Cuộc di cư Việt Nam năm 1954 chủ yếu là người công giáo
Cuộc di cư Việt Nam năm 1954 chủ yếu là người công giáo

Năm 1957, những người cộng sản miền Nam, hay còn gọi là Việt cộng, đã lợi dụng sự bất mãn của nông dân để tổ chức các nhóm nổi dậy ở nông thôn và ám sát các quan chức chính phủ. Số lượng các cuộc ám sát ngày càng tăng, từ 1.200 năm 1959 tới 4.000 vụ năm 1961. Mặc dù xuất hiện những số liệu này, cùng sự phát triển không ngừng của Việt cộng và lực lượng vũ trang chính trị của nó, sự thành lập của Mặt trận dân tộc giải phóng (thành lập năm 1960 bởi Hồ Chí Minh), Diệm vẫn duy trì kiểm soát ở các thành phố và hầu hết các vùng nông thôn ở miền Nam.

Việc những người nông dân miền Nam bị cách ly khỏi làng của mình và bị dồn vào các nơi được gọi là ấp chiến lược càng khiến cho họ giận giữ. Trong khi chính quyền nói với họ rằng việc này là để bảo vệ người dân khỏi sự cướp bóc của Việt cộng và thổ phỉ, mục đích chính vẫn là để cách ly Việt cộng ra khỏi các căn cứ và ngăn chặn sự tiếp viện từ người dân. Các ấp này được đặt dưới sự giám sát đều đặn của quân đội Việt Nam cộng hòa (ARVN) để ngăn chặn sự xâm nhập của Việt cộng, nhưng chính sách này chỉ càng khiến người nông dân bất mãn hơn và thậm chí không thèm hỗ trợ chính phủ trong việc loại bỏ Việt cộng.

Ngay cả Mỹ cũng bắt đầu cảm thấy báo động bởi những báo cáo về sự tàn bạo của Diệm. Đặc biệt việc đàn áp Phật tử một cách công khai khiến nhiều người Mỹ cảm thấy kinh sợ khi họ lại ủng hộ một nhà lãnh đạo như vậy. Do đó, kế hoạch lật đổ Diệm của một nhóm sĩ quan quân đội Việt Nam Cộng hòa nhận được sự ủng hộ ngầm từ chính quyền Mỹ là điều hiển nhiên. Tháng 11 năm 1963, Diệm bị ám sát và bị thay thế bởi một nhóm cố vấn không mấy tên tuổi.

Năm 1965, tướng Nguyễn Văn Thiệu trở thành tổng thống. Nhìn bên ngoài có vẻ Thiệu mang đến sự ổn định nhưng thực chất chính quyền của ông ta cũng tham nhũng và tướng tá của ông ta cũng bất tài chẳng khác gì dưới thời Diệm. Những chính sách của Thiệu chẳng theo một hệ tư tưởng nào, mà chỉ dựa trên những nhu cầu trước mắt để chống lại miền Bắc và Việt cộng, cũng như để duy trì sự ủng hộ mình qua hình ảnh và các mối quan hệ cá nhân hơn là việc loại bỏ tình trạng tham nhũng tồi tệ mà Diệm để lại.

Nguyễn Văn Thiệu
Nguyễn Văn Thiệu

Tuy nhiên, dưới thời Thiệu, chính quyền miền Nam đã có những cố gắng trong việc cải cách ruộng đất. Vào năm 1954 có đến 60% nông dân không có đất, hơn 20% nông dân chỉ sở hữu những khoảnh đất nhỏ hơn 2 mẫu Anh (1 mẫu Anh = 4046,86 m2). Hằng năm, những tá điền phải trả khoảng 74% thành quả mà họ thu hoạch được trên mảnh ruộng mà mình canh tác cho địa chủ.

Những năm 1940 và 1950, Việt Minh nhận được sự ủng hộ của nhiều người dân miền Nam nhờ việc phân chia lại ruộng đất triệt để. Việt Minh thực hiện việc này bằng việc bắt giữ các địa chủ và bắt họ nhượng lại đất cho những người nông dân. Việt cộng tiếp tục duy trì những chính sách này và thông qua việc phân chia lại ruộng đất của những địa chủ vắng mặt, họ nhận được sự ủng hộ trung thành của những người nông dân trong việc tổ chức chiến tranh du kích.

Người dịch: Hồ Hải Yến Ngọc