Lịch sử Việt Nam

Thời Trịnh Nguyễn phân tranh và triều Tây Sơn, Đại Việt hay Việt Nam là quốc hiệu nước ta?

Thời nhà Đinh, nước ta là Đại Cồ Việt, sang thời Lý là Đại Việt và kéo dài 723 năm bao gồm cả thời nhà Lê, thời Trịnh Nguyễn phân tranh, triều Tây Sơn và 3 năm đầu nhà Nguyễn. Năm 1804, vua Gia Long Nguyễn Ánh mới đổi thành nước Việt Nam.
95

Thực ra, trong các tài liệu về lịch sử Việt Nam mình ghi chép từ thời Trịnh Nguyễn phân tranh đã không hay thấy dùng quốc hiệu Đại Việt nữa mà chỉ gọi là Đàng Trong – Đàng Ngoài hay Bắc Hà – Nam Hà (từ này ít dùng, không phổ biến như Bắc Hà). Người nước ngoài còn gọi luôn là vương quốc Đàng Trong, Đàng Ngoài. Tuy nhiên, vì không có vua Lê nào chính thức đổi quốc hiệu nên đất Đàng Ngoài vẫn coi như có quốc hiệu chính thức là Đại Việt.

Đất Đàng Trong bản chất là độc lập với Đàng Ngoài, chúa Nguyễn chỉ lấy tiếng là phò Lê diệt Trịnh nên không dám xưng đế. Thời kỳ này giống thời Tam Quốc bên Trung Quốc khi cả nước Ngụy, Thục, Ngô đều là đất nhà Hán nhưng thực tế 3 nước này độc lập với nhau và vua Hán chỉ là bù nhìn. Nhưng Đàng Trong – Đàng Ngoài lại khác Tam Quốc ở chỗ là Đàng Trong chỉ có 1 phần rất nhỏ là gốc của Đại Việt, là đất Quảng Nam, mà thực chất cũng là đất mà Đại Việt mới chiếm của Chiêm Thành, còn rừng thiêng nước độc. Còn từ Quảng Nam vào đất Hà Tiên (gồm cả Cà Mau bây giờ) là đất “mở cõi” của chúa Nguyễn, chả liên quan gì đến Đại Việt cả. Vì thế nên coi Đàng Trong là Đại Việt thì rất khiên cưỡng. Khác với thời Tam Quốc thì 3 nước kia đều là đất của nhà Hán cũ.

Đến khi Tây Sơn nổi lên, họ chiếm 1 vùng đất của Đàng Trong, nên càng không thể coi là Đại Việt được. Đại Việt chỉ có tới Nghệ An mà thôi. Chính vì đất Đàng Trong không phải là đất gốc của Đại Việt (Đàng Ngoài) nên khi chúa Trịnh Sâm đánh Đàng Trong, chiếm được Phú Xuân rồi thì dừng lại, không đánh tiếp vào chiếm Gia Định (Nam Kỳ sau này) mà chấp nhận để cho Tây Sơn về hàng để diệt chúa Nguyễn thay mình.

Đến khi Trịnh Sâm chết, Tây Sơn chiếm được hết đất Đàng Trong, rồi đánh ra Thăng Long, diệt chúa Trịnh Khải, thì bản chất là Đàng Trong đánh ra Đàng Ngoài. Nhưng vì sợ cái tiếng cướp ngôi nên Nguyễn Huệ không dám lật vua mà lại rút về Nam. Lúc đó đất Đàng Trong chia làm 3 do 3 anh em Tây Sơn chiếm giữ cát cứ gần như độc lập với nhau và cũng độc lập với Đàng Ngoài (Đại Việt) của vua Lê. Mình nói là độc lập bởi vì chính vua Lê Chiêu Thống cắt đất Nghệ An để tặng cho Nguyễn Huệ vì cái công diệt Trịnh phò Lê. Nếu vẫn cùng 1 nước thì cắt đất ban thưởng làm quái gì. Đất đó Nguyễn Huệ giao cho Nguyễn Hữu Chỉnh trấn thủ.

Năm 1788, Nguyễn Huệ lên ngôi hoàng đế, lấy niên hiệu Quang Trung trước khi đánh ra Bắc, diệt quân Thanh, thì không rõ là hoàng đế nước nào? Bởi vì trung ương hoàng đế là Nguyễn Nhạc vẫn còn đấy, Nguyễn Lữ cũng là 1 vua khác thì vừa bị Nguyễn Ánh chiếm lại Gia Định, đất Đại Việt thì vẫn chưa chiếm được tuy có bảo hộ (bởi Ngô văn Sở và Ngô Thì Nhậm), vua Lê Chiêu Thống vẫn còn đó nhưng chạy dạt sang Bắc Ninh.

Sau khi đại phá quân Thanh, nhà Tây Sơn (chính xác thì chỉ là Nguyễn Huệ đánh quân Thanh thôi chứ Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ không liên quan) thôn tính luôn Đàng Ngoài (Đại Việt) của vua Lê thì Nguyễn Huệ mới thực sự là vua nước Đại Việt. Nhà Tây Sơn lúc đó có 2 vùng đất, 1 của Quang Trung là đất Đại Việt vào đến Phú Xuân, 2 là đất của vua Nguyễn Nhạc đóng đô ở Quy Nhơn, còn vùng thứ 3 là Gia Định (Nam Kỳ) vẫn thuộc về Nguyễn Ánh! Như vậy cương vực của Đại Việt lúc đó đến đâu? Mình cho là chỉ đến Phú Xuân mà thôi.

Chính vì lẽ đó mà khi Gia Long thống nhất đất nước, bản chất là Đàng Trong thôn tính Đàng Ngoài, xóa bỏ nhà Tây Sơn (trước đó nhà Tây Sơn xóa bỏ nhà Lê), thì mới đổi quốc hiệu thành Việt Nam. Như vậy, Nguyễn Ánh đã ngầm phủ định cái gốc Đại Việt của mình rồi, nên mới đổi tên Quốc Hiệu Việt Nam.

Xem thêm: Nguyễn Ánh trả thù nhà Tây Sơn, “cõng rắn cắn gà nhà”? và hai tiếng Việt Nam

Lịch sử Việt Nam

“Đánh giặc” bằng nhạc

Năm 1371, vua Chiêm Thành là Chế Bồng Nga sai sứ sang chầu nhà Minh, tố cáo rằng Đại Việt xâm lấn nước mình. Điều đặc biệt trong lần đi sứ này, là Chiêm Thành lại xin Minh ban cho… nhạc cụ và nhạc công để chống lại Đại Việt.
75

Bản dịch biểu chương của Chiêm Thành viết:

“Cúi mong Hoàng đế rủ lòng ban cho binh khí, nhạc khí, nhạc nhân, khiến An Nam biết Chiêm Thành của thần đã được hưởng thanh giáo, là đất nộp cống, thì An Nam không dám lăng nhục”.

Nhà Minh bấy giờ giữ trung lập trong vấn đề xung đột Việt – Chiêm nên từ chối đề nghị trên, gửi thư báo Chế Bồng Nga rằng:

“Việc xin binh khí, với vương nào có tiếc. Song thấy Chiêm Thành, An Nam tranh đoạt lẫn nhau, mà triều đình chỉ cho mỗi Chiêm Thành thì là giúp ngươi đánh nhau, rất sai nghĩa phủ an. Việc xin nhạc khí và nhạc nhân, thì về thanh luật tuy kẻ trong người ngoài đều như nhau, nhưng về ngữ âm thì Hoa, Di khác biệt, khó lòng sai người đi. Nếu nước ngươi có ai biết tiếng Hoa Trung Quốc, có thể hiểu âm luật, thì tuyển trạch mấy người đưa đến kinh học tập”.

Sứ đoàn này đến Kim Lăng vào tháng 7 âm lịch, nên hẳn là rời Chiêm Thành từ năm trước. Thực tế thì trong tháng 3 âm lịch năm 1371, quân Chiêm mới là bên chủ động tấn công Đại Việt, đánh thẳng vào Thăng Long rồi rút về. Việc sai sứ sang Trung Quốc “cầu viện” trước khi xuất quân hẳn chỉ là chiêu bài của Chế Bồng Nga nhằm tỏ vẻ yếu thế trong mắt nhà Minh, dễ dàng biện bạch trong bang giao về sau hơn. Sử Minh sau đó cũng không nhắc đến chuyện người Chiêm Thành sang học nhạc, nên có lẽ chưa từng ai được cử đi.

Xem thêm: 5000 quân Toa Đô đánh Chiêm Thành là quá ít?

Quốc Bảo

Lịch sử Việt Nam

2 Sứ thần Đại Việt bị đi đày vì làm nhục Quốc thể

Hai sứ thần này khi đi sứ sang nhà Minh vì tham lam, danh vọng, ghen ghét lẫn nhau mà làm nhục cả quốc thể và bị vua Lê Thái Tông xử tội phải đi đày.
76

Trong lịch sử phong kiến Việt Nam từng có rất nhiều vị sứ thần tài giỏi, bản lĩnh, khí phách. Nhưng vẫn có một số trường hợp sứ thần tham lam, háo danh, đố kỵ làm mất quốc thể khi đi sứ và đã phải trả giá như Thái Quân Thực và Nguyễn Tông Trụ khi đi sứ nhà Minh.

Tháng 5 năm 1434, vua Lê Thái Tông cử đoàn sứ thần bao gồm Tuyên phủ sứ Nguyễn Tông Trụ; Trung thư hoàng môn thị lang Thái Quân Thực; kỳ lão Đái Lương Bật mang tờ biểu và phương vật sang nhà Minh cầu phong. Tuy nhiên khi đến Bắc Kinh thì Thái Quân Thực và Nguyễn Tông Trụ đã cư xử bốc đồng, vì tham lam danh vọng mà làm những việc mất quốc thể, được ghi chép rất rõ trong Đại Việt sử ký toàn thư.

Hai người này khi vâng lệnh sang sứ nhà Minh, hữu ty làm giấy tờ, theo thứ tự trước sau, ghi Tông Trụ là bồi thần, Quân Thực là kỳ lão. Quân Thực có ý bất bình.

Khi đến nước Minh, chiếu theo thứ bậc để ban áo, thì áo của Quân Thực không có hoa văn kim tuyến, trong lòng hậm hực bảo người phương Bắc rằng:

“Ta là quan tứ phẩm lại ở dưới Tông Trụ là làm sao ?”.

Đến khi dự yến, Thực không mặc áo được ban, mà mặc áo dệt kim tuyến của mình vào dự. Thực còn đem bản tâu do thừa chỉ Tham tri Nguyễn Trãi soạn ra mà chửi bới (vì trước Hành khiển Nguyễn Trãi soạn xong tờ tâu, bọn Nội mật viện Nguyễn Thúc Huệ và Học sĩ Lê Cảnh Xước muốn đổi lại mấy chữ, Nguyễn Trãi không chịu), lại chửi luôn cả Tham tri Đông đạo Đào Công Soạn, vì ông này đã cử Tông Trụ cùng đi với mình. Tông Trụ cũng giận dữ tranh cãi không ngớt, đến nỗi hai người đánh lộn lẫn nhau, Tông Trụ bị vỡ mặt, người đi theo can ngăn cũng không được. Hai người lại kiện nhau ở Hồng lô tự (của nhà Minh) nói xấu lẫn nhau. Tông Trụ còn lén tới nhà viên nội quan của Bắc triều ở Long Châu (Quảng Tây) nhận lễ vật tặng, lại nói với viên quan đi tiễn của Long Châu là Lã Hồi về chuyện khi đi sứ Ai Lao nói vụng Tiên đế nghe gièm giết bậy.

Hai người này đều vì tội đi sứ mà giao thiệp với người nước ngoài, tức giận mà đánh lẫn nhau, làm nhục cả quốc thể, đáng phải xử tử. Nhưng vì đã từng có công, nên tùy theo tội nặng hay nhẹ, đều xử tội đi đày. Tông Trụ lại đem nhiều tiền lụa sang mua hàng phương Bắc, vua ghét Trụ vi phạm lệnh cấm mà làm tiền, liền lấy hết hành trang chia cho các quan.

Chỉ vì chiếc áo hoa văn kim tuyến mà 2 sứ thần Đại Việt đã làm mất quốc thể
Chỉ vì chiếc áo hoa văn kim tuyến mà 2 sứ thần Đại Việt đã làm mất Quốc thể. (Ảnh minh họa)

Cuối cùng Thái Quân Thực thì đày ra viễn châu (Bố Chính), Nguyễn Tông Trụ thì đày ra cận châu (Nghệ An).

Nguyễn Lê Dương