Lịch sử Việt Nam

Sự tàn bạo của lính đánh thuê Hàn Quốc tại Việt Nam trong “America’s Korea, Korea’s Vietnam”

Đây là một số đoạn trích nói về sự tàn bạo của lính đánh thuê Hàn Quốc tại Việt Nam đăng trên tạp chí Critical Asian Studies với tiêu đề "America's Korea, Korea's Vietnam". Khám Phá Lịch Sử xin trích dẫn lại để các bạn hiểu thêm về tội ác của lính đánh thuê Hàn Quốc trong chiến tranh Việt Nam.
7

Sự tàn bạo của lính Mỹ với thường dân Việt Nam trong Chiến tranh Việt Nam – Vietnam War đã từng trở thành một đề tài tranh cãi nóng hổi trên đại chúng của Hoa Kỳ, thế mà những hành động tương tự của lính Hàn Quốc đánh thuê cho Mỹ ở Việt Nam thì hầu như không được biết đến với thế giới Phương Tây.

Đại Hàn đã gửi hơn 300.000 quân tới Việt nam trong khoảng 1965 tới 1973, nhưng sau nhiều thập kỷ bị bắt phải im lặng bởi các nhà cầm quyền kế tiếp nhau, chỉ mới gần đây người Hàn mới đụng chạm lại những mờ ám quá khứ trong chiến tranh Việt Nam của Hàn Quốc.

Quân đội Hàn Quốc duyệt binh ở Việt Nam, 1968
Quân đội Hàn Quốc duyệt binh ở Việt Nam, 1968. (Nguồn: The ROK Army in Vietnam: Six Years of Peace and Construction, Seoul)

Mùa xuân và mùa hè năm 2000, những bằng cớ trên truyền thông Hàn quốc đưa ra bởi các cựu binh đã lần đầu tiên tiết lộ ở mức độ chi tiết sự tàn bạo ở mức độ lớn của lính Hàn đối với thường dân Việt Nam. Những tiết lộ đó, và sự tranh cãi gây ra sau đó ở Hàn Quốc, đã làm nổi bật vai trò của người Hàn trong Vietnam War và vai trò của Vietnam War đối với sự phát triển chính trị và kinh tế ở Hàn quốc.

Chúng ta không thể ngồi không làm người xem trong khi đồng minh của chúng ta trở thành con mồi của sự xâm lược của cộng sản.

– Tổng thống Park Chung Hee, 9/2/1965

Chúng ta phải chiến đấu với kẻ địch ở Việt Nam cũng như chúng ta chiến đấu ở Triều Tiên. Chúng ta phải cố gắng hướng tới chấm dứt chủ nghĩa cộng sản, thiết lập lại hoà bình, và xây dựng lại Việt Nam.

– Tướng Lee Sae-ho, 1/5/1966

Xem thêm: Lính đánh thuê Hàn Quốc tại Việt Nam và những tội ác không được thừa nhận

Nửa năm đầu chưa qua đi, nhưng 2001 đã trở thành một năm đáng nhớ cho việc phục hồi những ký ức bị đè nén về các cuộc chiến tranh của Mỹ ở Đông Á. ….

[Đoạn này nói về các sự kiện truyền thông nổi bật, đề cập các vụ điều tra thảm sát của lính Mỹ đối với người Hàn và những vụ thảm sát của lính Hàn Quốc tại Việt Nam, những tiết lộ đầu tiên trên tờ Hankyoreh Sinmun…]

…Những bài báo chi tiết và gây chấn động nhất dựa trên hồi ức cuả đại tá về hưu Kim Ki-t’ae, nguyên là chỉ huy của Đại đội 7, tiểu đoàn 2, lữ đoàn lính thuỷ đánh bộ thiện chiến “Rồng Xanh“. Giờ đây, ở tuổi ngoài 60, Kim xác nhận với Hankyoreh vào tháng 4/2000 rằng khi là một trung uý 31 tuổi ông ta đã được chỉ huy vụ giết chóc dã man 29 người thanh niên Việt Nam không có vũ trang ở tỉnh Quảng Ngãi vào ngày 14/11/1966.

Câu chuyện của ông ta hoá ra chỉ là phần nổi của tảng băng chìm; những hồi ức tiếp theo đó của các cựu binh Hàn Quốc đã cho thấy một bức tranh chi tiết ghê sợ, mà vẫn hầu như chưa được biết tới với thế giới Phương Tây, về sự tham dự của Hàn Quốc trong chiến tranh Việt nam.

Kim Ki-t’ae xác nhận rằng từ 9 tới 27/11/1966, các tiểu đoàn 1,2,3 của “Rồng xanh” đã tiến hành “chiến dịch Mắt Rồng” , nhằm quét sạch sự kháng cự của Việt Cộng ra khỏi khu vực hoạt động của họ ở miền Trung Việt Nam. Ngày 10/11, đại đội 6 tiểu đoàn 2 đã bị nã súng ở gần làng An Tuyet, mặc dù họ không có thương vong.

4 ngày sau đó, với ký ức vụ tấn công vẫn còn nóng hổi trong đầu họ, đại đội 7 bắt gặp 29 người Việt Nam trên một cánh đồng lúa. Lính Hàn bắt họ lại vì tình nghi là du kích và trói họ lại với nhau ở cổ tay và lục soát vũ khí. Không tìm thấy vũ khí ở quanh đó, lính Hàn còn có lựa chọn là thả tù nhân hoặc chuyển giao họ cho quân đội cộng hoà (ARVN). Đó là ngày cuối cùng của giai đoạn 1 Chiến dịch Mắt rồng.

Ngày 15/11 lực lượng ROK tham dự chiến dịch sẽ bàn giao vùng kiểm soát cho ARVN, mà quân Hàn vốn coi thường. Trao những người bị tình nghi Việt Cộng này cho ARVN cũng chẳng khác nào trợ giúp quân địch, đó là điều người Hàn suy nghĩ. Họ cho rằng có khả năng cao rằng những người này sẽ thoát ra, sẽ nhóm lại, và sẽ gây ra nhiều rắc rối.

Lính Hàn đã kiệt sức sau 6 ngày trong rừng đánh nhau, quân phục đã sờn rách, mặt sơn đen nguỵ trang, và Mắt Rồng vẫn chưa có ghi nhận đáng kể nào về thương vong của Việt Cộng. “Chúng ta làm gì với bọn khốn này?” – Một chỉ huy trung đội hỏi Kim. “Đưa bọn nó ra đằng kia!” là câu trả lời của Kim.

Những người đàn ông Việt Nam, vẫn bị buộc với nhau bằng dây thừng, bị ném xuống một cái hố bom tạo ra bởi máy bay F4 Mỹ. Cái hố rộng khoảng 8m và sâu 4m. Lính Hàn lùi lại và ném lựu đạn vào trong hố, máu và thịt bay lộp bộp trong không trung. Khi họ kết thúc, những tiếng kêu của những người sống sót vẫn vọng lên từ dưới hố. Lính Hàn kê súng lên vai và nã đạn xuống, đảm bảo rằng tất cả đều chết.

Là chỉ huy đại đội – chức vụ sỹ quan cao nhất ngoài chiến trường của lính Hàn tại Việt nam – Kim ý thức rất sâu sác trách nhiệm trực tiếp về hành động mà ông ta đã thuật lại. Như ông ta nói với Hankyoreh Sinmun, “Hàng chục người sống hay chết là phụ thuộc vào mệnh lênh của tôi. Nếu tôi nói ‘Thả bọn họ ra! Đừng giết!’ thì họ sẽ sống, nhưng nếu tôi nói, ‘Lũ chết tiệt chúng mày, lằng nhằng hả?’ thì họ sẽ bị lôi ra và giết. 29 người đó cũng vậy. Nhưng giờ tôi nghĩ về điều đó, họ chỉ là những nông dân.

Vẫn là Kim giải thích, bằng ngôn từ gợi nhớ một cách đáng kinh ngạc những hồi ức của lính Mỹ về Nogun (làng ở Triều Tiên nơi xảy ra vụ thảm sát của lính Mỹ với dân thường) và về chính Vietnam War, “Chiến tranh Việt Nam là một cuộc chiến tranh du kích. Chúng tôi không thể phân biệt giữa Việt Cộng và không phải Việt Cộng. Người dân trợ giúp cho Việt Cộng trong những làng Việt Cộng, tấn công phía sau chúng tôi.

Một phụ nữ sống sót sau một cuộc tấn công của lính Hàn Quốc. Lính đánh thuê Hàn Quốc đã giết chết 40 người trong làng của cô ấy vào năm 1966
Một phụ nữ sống sót sau một cuộc tấn công của lính Hàn Quốc. Lính đánh thuê Hàn Quốc đã giết chết 40 người trong làng của cô ấy vào năm 1966. (Nguồn: Hankyoreh 21, 27 tháng 4 năm 2000)

Kim cũng tiết lộ rằng 1 tháng trước đó, ngày 9/10/1966, hầu hết người dân trong làng Binh Tai, huyện Phước Bình, 68 người đàn ông, đàn bà, trẻ em – đã bị thảm sát bởi lính ROK (Thảm sát Diên Niên – Phước Bình), những kẻ đã đốt nhà của dân làng và bắn chết những người chạy ra khỏi các căn nhà đang cháy. Giờ đây ở Việt Nam, có một đài tưởng niệm ở Phước Bình tưởng niệm những thường dân bị giết tập thể bởi Nam Hàn.

Nếu như chiến tranh Triều Tiên là một “cuộc chiến bị quên lãng” ở Mỹ, thì chiến tranh Việt Nam bị quên lãng, thậm chí bị cấm đoán, ở Hàn Quốc. Đối với những người Mỹ, sự tham dự quân với số lượng lớn của Nam Hàn trợ giúp Mỹ trong chiến tranh Việt Nam còn bị quên lãng hơn gấp đôi. Chẳng mấy người Mỹ biết rằng người Hàn đã ở đó trong cuộc chiến của họ, mà chính xác hơn là của chúng ta (Mỹ).

Hệ quả của Vietnam War đối với người Hàn cũng tương tự như đối với người Mỹ, bao gồm cả những hội chứng hậu chiến, hàng nghìn đứa trẻ lai Hàn bị bỏ rơi bởi lính và viên chức dân sự Hàn, nỗi ám ảnh chất độc da cam, mà những cựu binh Hàn đã theo đuổi vụ kiện chính phủ và các công ty hoá chất Mỹ để đòi bồi thường từ năm 1984, nhưng vẫn chưa thành công.

Song trong khi ở Mỹ, Vietnam War làm dấy lên những đợt tranh cãi mở và thông thường rất căng thẳng, thì tranh cãi về Vietnam War ở Hàn quốc bị dìm vào im lặng bởi các thể chế quân sự kế tiếp nhau, và chỉ trở thành một vấn đề công luận hạn chế trong khoảng 10 năm rồi.

Sự im lặng này một phần là kết quả của những nổ lực của chính quyền Hàn Quốc đè bẹp bất cứ thứ gì có thể làm phương hại quan hệ ROK – US, một phần bởi vì sự nhạy cảm do những lợi ích tài chính Hàn Quốc nhận được từ cuộc chiến đó, và một phần phản ánh sự hổ thẹn khi ở bên bại trận – đặc biệt là sau nhiều năm rùm beng tuyên truyền trong thời gian của cuộc chiến về sự chính nghĩa của người Hàn tham dự trong cuộc chiến và tinh thần tương trợ của các lực lượng Hàn quốc với người dân Nam Việt Nam.

Khi ROK gửi “quân viễn chinh” tới Việt nam cuối những năm 60, việc đó được miêu tả trên các phương tiện thông tin Hàn như một sự tự vệ cao thượng của tự do chống lại cộng sản xâm lược, và được chào mừng bởi người Việt Nam. Kiểm duyệt thông tin nghiêm ngặt của Hàn Quốc đảm bảo hình ảnh đó vẫn còn được giữ cho tới tận những năm 80. Thậm chí trong cuộc tưởng niệm năm 1994 ở Seoul, hình ảnh của các lực lượng ROK vẫn không ngừng được nhắc tới với hình ảnh tích cực đó.

Gần đây tháng 5 năm 1995, bộ trưởng giáo dục Kim Suk-hui đã bị bãi nhiệm vì nói rằng chiến tranh Triều tiên là “nội chiến” và tới lính Hàn trong chiến tranh Việt Nam là “lính đánh thuê“. Chỉ từ những năm 90 các thảo luận công khai về những điều còn mơ hồ về ROK trong chiến tranh Việt Nam mới nổi lên ở Hàn. Sự ý thức nhiều hơn về cuộc chiến của đại chúng được biểu hiện qua các tiểu thuyết, phim và những tiết lộ nhỏ giọt từ truyền thông và một bộ Quốc phòng còn đang do dự.

Giữa làn sóng thông tin đó và những tranh cãi về chiến tranh Việt Nam của người Hàn, sự phức tạp và mức độ quan trọng của Vietnam War đối với ROK đã được sáng tỏ ở một mức độ không lường trước, và mối liên hệ giữa Việt Nam và sự phát triển chính trị, kinh tế của Hàn đã trở nên ngày càng rõ ràng hơn.

Cách hiểu thông thường, đặc biệt là ở Mỹ, rằng Vietnam war thuộc về chiến tranh lạnh toàn cầu hay thuộc về mối quan hệ Mỹ – Việt, đã che khuất đi sự quan trọng của cuộc chiến trong khu vực Đông Á. Có lẽ, quan trọng nhất với Hàn Quốc, là Vietnam War góp phần không nhỏ, cho sự “thần kỳ” của kinh tế Hàn quốc từ những năm 60 tới những năm 90.

[đoạn này nói về quá trình gửi quân, tăng cường quy mô của ROK ở Việt Nam, và Việt Nam War đã trở thành mỏ vàng cho người Hàn như thế nào]

Những chứng cớ về sự tàn ác của lính ROK ở Việt Nam hầu hết vẫn chỉ là các giai thoại, và cho tới ngày nay vẫn không có một cuộc điều tra có hệ thống nào về sự tàn ác đó. Loạt bài trên Hankyoreh Sinmun không chỉ là nghiên cứu báo chí ở mức độ lớn ở Hàn Quốc, mà cũng là nỗ lực đầu tiên của người Hàn nhằm tự kiểm chứng những câu chuyện về sự tàn độc của chính binh sỹ nước mình.

Lấy ví dụ, câu chuyện của Kim giết 68 thường dân tháng 10/1966 được khẳng định lại bởi một điều tra của Hankyoreh Sinmun ở Phước Bình. Nhưng cho dù chỉ là các giai thoại, rất nhiều câu chuyện về sự tàn ác cho thấy mức độ lớn và độ nhất quán cao. Ví dụ, một câu chuyện cũ về lính Hàn thường cắt tai và mũi của Việt Cộng để lấy hành tích về số quân địch bị giết; cảnh cắt tai diễn ra không ít hơn 4 lần trong các bộ phim chuyển thể từ tiểu thuyết của Ạhn Jung-hyo về chiến tranh Việt Nam Quân hàm trắng.

Kim, trong hồi ký với Hankyoreh Sinmun, xác nhận rằng binh lính Hàn cắt tai, mũi của Việt Cộng mang về làm kỷ niệm. Cho dù điều này đôi khi có vẻ cũng được thực hiện bởi lính Mỹ, việc cắt tai và mũi một cách có hệ thống làm gợi nhớ ghê gớm tới việc cắt tai và mũi của người Hàn bởi quân Nhật trong cuộc xâm lược của Hideyoshi vào những năm 1590. Một cái gò từ mà người ta nói được tạo thành từ tai người Hàn Quốc sau những cuộc xâm lược đó giờ vẫn là một địa điểm thu hút khách du lịch gần Tokyo, mà người ta gọi là “Mồ tai” (mimizuka).

Không có chứng cớ cho thấy lính ROK bắt chước hành động này của quân Nhật trung cổ – một điều có thể nói là trớ trêu trong lịch sử hai nước – nhưng những ghi nhận về sự tàn độc của Hideyoshi được ghi nhận trong giáo khoa của ROK. Những báo cáo khác cáo buộc lính ROK móc tim của người sống, hoặc lột da của tử sỹ Việt Cộng treo trên cây để đe doạ.

Nghĩa trang Quốc gia Hàn Quốc, Seoul. Kim Ki-t’ae, cựu chỉ huy trưởng Tiểu đoàn 7, Tiểu đoàn 2, thuộc Lữ đoàn Thủy quân lục chiến “Rồng Xanh” ưu tú của Hàn Quốc, cúi đầu trước bia mộ của một người lính ROK đã thiệt mạng tại Việt Nam. Kim đã tiết lộ
Nghĩa trang Quốc gia Hàn Quốc, Seoul. Kim Ki-t’ae, cựu chỉ huy trưởng Tiểu đoàn 7, Tiểu đoàn 2, thuộc Lữ đoàn Thủy quân lục chiến “Rồng Xanh” của Hàn Quốc, cúi đầu trước bia mộ của một người lính ROK đã thiệt mạng tại Việt Nam. Kim đã tiết lộ “những hành động khủng khiếp” mà quân đội của ông đã thực hiện ở Việt Nam. (Nguồn: Hankyoreh 21, 27 tháng 4 năm 2000)

Trong khi cần nhiều nghiên cứu hơn để xác thực bản chất tàn độc trên mức độ rộng của lính Hàn ở Việt nam, thì tiếng xấu về sự ác độc của họ đã quá rộng rãi – và được nhắc lại quá thường xuyên bởi những chứng nhân người Hàn, người Việt, người Mỹ – để mà có thể bị bỏ qua.

Sự tàn độc này có thể được lý giải bởi vài nguyên do: Do đã trải qua chiến tranh Triều Tiên và cách huấn luyện ROK đã tạo nên những người lính Hàn; những di sản của người Nhật trong thời kỳ chiến tranh đô hộ; và có sự phân biệt chủng tộc một cách mơ hồ – có thể nói một dạng bán – thuộc-địa – vị trí của lính Hàn được đặt giữa người Mỹ và người Việt.

Trước tiên, sự tàn ác của lính Nam Hàn ở Việt Nam là hệ quả trực tiếp của sự tàn bạo trong chiến tranh Triều tiên, đã giết chết tới 2 triệu người Triều Tiên. Rất nhiều dân thường TT chết do bom Mỹ, và không ít hành động tàn ác đã được gây ra bởi người BTT và người Trung Quốc. Nhưng quân đội mới thành lập ROK dường như giết chóc bừa bãi hơn, thương vong dân thường trong 3 tháng quân UN-US-Nam Hàn chiếm giữ Bắc Triều Tiên (9-12/1950) có lẽ đã lên tới hàng trăm ngàn.

Hầu hết ROK ở Việt Nam là những cậu bé trong thời gian chiến tranh liên Triều và đã chứng kiến rất gần những hành động phi nhân tính. Được dạy dỗ suốt đời để coi “bọn đỏ” không phải là người, bọn họ phù hợp cho những chiến dịch chống cộng bằng bạo lực.

Việc huấn luyện quân đội ROK một phần bởi ảnh hưởng quân đội Nhật trong quân đội Hàn – rất khắc nghiệt. Cho tới thời gian gần đây, tất cả những người khoẻ mạnh đều sẽ phải phục vụ 3 năm trong quân đội Hàn, và phải trải qua khoá huấn luyện cơ bản với những thử thách đáng sợ đôi khi có thể dẫn tới chết người. Không khó để tưởng tượng ra những người lính trẻ đó, bối rối ở một nơi chiến sự xa cách quê hương mình, chẳng nói nổi tiếng Pháp hay tiếng Anh (và tiếng Việt càng ít hơn) mất mất cảm giác phân biệt và có điều khiển bản thân trong chiến trận.

[Đoạn này cũng như phần trên triển khai chi tiết ảnh hưởng của người Nhật với sự tàn độc của người Hàn, cũng như lý do về dòng giống khi họ cho rằng họ cao quý hơn người Việt Nam, ….]

[Cũng nói về một nguyên nhân mà người Hàn không muốn đưa ra công khai, vì bản thân họ đang tố cáo người Mỹ tàn ác trong chiến tranh Triều Tiên, việc toà soạn bị những cựu binh bao vây đập phá, về sự im lặng của chính quyền Hàn Quốc, và sự im lặng từ chính chúng ta…]

[Lời kêu gọi của ban quản trị Critical Asian Studies tới Liên Hiệp quốc, Nato, Mỹ và các nhà lãnh đạo thế giới yêu cầu trừng trị các tội ác chiến tranh và những tội ác chiến tranh chống lại người châu Á, để đảm bảo chúng sẽ không tái diễn]

—————————-

Xem và tải về bản tiếng Anh “America’s Korea, Korea’s Vietnam“.

Lịch sử Việt Nam

Tại sao Việt Nam không yêu cầu Nhật Bản bồi thường chiến tranh như Hàn Quốc?

Vấn đề bồi thường chiến tranh trong những năm tháng Nhật Bản chiếm đóng bán đảo Triều Tiên luôn là vấn đề nhạy cảm, gây ra rất nhiều tranh cãi và xung đột lợi ích, giữa hai người hàng xóm Nhật Bản và Hàn Quốc. Nhật Bản cũng từng chiếm đóng và gây ra nhiều […]
7

Vấn đề bồi thường chiến tranh trong những năm tháng Nhật Bản chiếm đóng bán đảo Triều Tiên luôn là vấn đề nhạy cảm, gây ra rất nhiều tranh cãi và xung đột lợi ích, giữa hai người hàng xóm Nhật Bản và Hàn Quốc.

Nhật Bản cũng từng chiếm đóng và gây ra nhiều tội ác chiến tranh tại Trung Quốc và Việt Nam. Những thiệt hại mà phía Trung Quốc và Việt Nam gánh chịu cũng không hề thua kém so với phía Hàn Quốc, nếu không muốn nói là hơn. Nhưng, thái độ của Việt Nam và Trung Quốc với Nhật Bản khác hoàn toàn thái độ của Hàn Quốc với Nhật Bản. Trong diễn đàn giao lưu văn hóa Việt Nhật, có khá nhiều người Nhật đặt ra câu hỏi: Tại sao Việt Nam và Trung Quốc không yêu cầu Nhật Bản đền bù tội ác chiến tranh, trong khi Hàn Quốc thì luôn luôn đòi hỏi?

Nhật Bản bồi thường chiến tranh cho Hàn Quốc

Thực tế, theo Hiệp định cơ bản Hàn – Nhật và Hiệp định yêu sách Hàn – Nhật được kí năm 1965, Nhật Bản đã đền bù cho phía Hàn Quốc khoảng 300 triệu USD tiền mặt, cho vay ưu đãi khoảng 200 triệu USD và và thu xếp vốn, đào tạo nhân lực, hỗ trợ công nghệ, kỹ thuật cho một số dự án tại Hàn Quốc. Trong Hiệp định yêu sách Hàn – Nhật có ghi rõ rằng “Cam kết giải quyết hoàn toàn và triệt để tài sản, quyền lợi, lợi ích của hai nước và nhân dân khi kí kết hiệp định..”.  Ngoài ra, Hiệp định yêu sách Hàn – Nhật còn lấy căn cứ đòi bồi thường từ phía Hiệp ước hòa bình San Francisco – hiệp định mà Nhật Bản sẽ tiến hành bồi thường cho các nước Đồng Minh nhằm mục đích bình thường hóa quan hệ.

Một bản sao Hiệp định yêu sách Hàn - Nhật, 1965 được trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử Đương đại Quốc gia Hàn Quốc
Một bản sao Hiệp định yêu sách Hàn – Nhật, 1965 được trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử Đương đại Quốc gia Hàn Quốc (Ảnh Wikipedia)

Tức là nếu xét đúng nghĩa ra, thì Nhật Bản đã hoàn tất dứt điểm các yêu cầu đòi đền bù từ phía Hàn Quốc thông qua hiệp định song phương và đa phương.

Tuy nhiên, những năm 2000, phía Hàn Quốc muốn lật lại hồ sơ chiến tranh, xoáy sâu vào tội ác chiến tranh của Nhật Bản tại bán đảo Triều Tiên và muốn phía Nhật Bản tiếp tục đền bù hậu quả chiến tranh. Phía Hàn Quốc lúc đó có động thái giống như kiểu: “Tôi biết, nhưng đền bù như thế là quá ít”.

Phía Hàn Quốc tiến hành “lách luật”, cho rằng Chính phủ Nhật Bản mới chỉ đền bù cho Chính phủ Hàn Quốc chứ chưa đền bù cho người dân Hàn Quốc. Các hiệp định, thỏa thuận về đền bù tội ác chiến tranh đều do hai bên Chính phủ thỏa thuận, ký kết và làm việc, còn người dân Hàn Quốc thì không được hưởng. Và rồi, nhiều công dân Hàn Quốc là nạn nhân của chiến tranh tiến hành khởi kiện các công ty Nhật Bản tại Hàn Quốc, yêu cầu đền bù. Phía Nhật Bản khó chịu ra mặt, các công ty Nhật Bản cũng không đồng tình, thì phía Tòa án Hàn Quốc ra phán quyết tịch thu tài sản của một số công ty Nhật tại Hàn Quốc.

Nhằm theo đuổi vụ kiện, phía Hàn Quốc thậm chí còn từ bỏ quyền chiến thắng, gỡ bỏ tư cách Hàn Quốc thuộc khối Đồng Minh tại Chiến tranh Thế giới thứ II. Tháng 8/2019, KBS dẫn nguồn tin từ một cán bộ ngoại giao Hàn Quốc cho rằng Hàn Quốc không phải là quốc gia thắng trận, không thuộc khối Đồng Minh, không tham gia vào Hiệp ước San Francisco. Rồi họ “lật kèo”, cho rằng Hiệp định yêu sách Hàn – Nhật thực chất chỉ giải quyết vấn đề công nợ của hai quốc gia.

Phía Nhật Bản muốn giải quyết vấn đề theo thông lệ quốc tế, mong muốn phía Hàn Quốc cử đại diện tham gia vào Ủy ban trọng tài quốc tế thì phía Hàn Quốc từ chối. Tháng 7/2019, phía Hàn Quốc khước từ và cho rằng phải do Tư pháp Hàn Quốc xử lý – nói trắng ra là Hàn Quốc phán như thế nào thì phía Nhật phải tuân theo.

Nhật từng đền bù cho VNCH vì sức ép của Mỹ

Nhật Bản cũng từng đền bù cho Việt Nam, nhưng lại đền bù cho phía Việt Nam Cộng Hòa vì sức ép của Mỹ. Phía Nhật cho rằng nếu đền bù, họ phải đền cho phía Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa – tức là Bắc Việt, vì tội ác lớn nhất mà họ gây ra là nạn đói Ất Dậu diễn ra tại Bắc Bộ chứ không phải là ở miền Nam.

Lúc đầu, phía Quốc gia Việt Nam yêu cầu Nhật Bản bồi thường 2 tỷ USD nhưng phía Nhật Bản cho rằng số tiền đó là quá lớn và đối tượng đền bù là sai – vì một số thành viên nội các Nhật muốn đền bù cho phía Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Năm 1956, VNCH yêu cầu Nhật Bản đền bù 250 triệu USD, Nhật Bản không chịu. Do quá túng tiền, VNCH “mặc cả” số tiền đền bù xuống còn 39 triệu USD. Việc chốt kèo diễn ra, Nhật Bản sẽ xây nhà máy thủy điện Đa Nhim cho VNCH.

Vì sao Việt Nam không yêu cầu Nhật Bản bồi thường chiến tranh?

Năm 1973, sau khi kí Hiệp định Paris, Nhật thừa nhận có hai chính quyền ở Việt Nam. Họ cử một viên chức đại diện ngoại giao Nhật đến Hà Nội, mong muốn đề cập đến vấn đề bồi thường cho nạn nhân miền Bắc chết đói vào năm 1945. Phía Nhật khá là sòng phẳng khi luôn tâm niệm rằng, nếu đền bù, phải đền bù cho đúng.

Điều bất ngờ là chỉ mất vỏn vẹn 5 tháng, phía VNDCCH và Nhật Bản tiến hành xong các trao đổi về bồi thường. Theo đó, phía Nhật sẽ không phải bồi thường hậu quả chiến tranh, phía VNDCCH sẽ không khoét sâu vào tội ác chiến tranh. Nhật Bản sẽ viện trợ cho VNDCCH và ủng hộ công cuộc thống nhất của nhân dân Việt Nam.

Đầu tiên, phía VNDCCH mong muốn có thêm bạn bè và không muốn khoét sâu vào nỗi đau chiến tranh, còn Nhật Bản đang muốn gây dựng lại hình ảnh hòa bình, hợp tác. Phía VNDCCH đề nghị phía Nhật Bản viện trợ nhân đạo thay vì bồi thường chiến tranh, rõ ràng, cụm từ “viện trợ nhân đạo” có ý nghĩa ngoại giao rất lớn trong lúc cả hai đang gây dựng hình ảnh với thế giới.

Tính đến năm 1973, cũng đã trải qua gần 30 năm từ khi các tội ác chiến tranh xảy ra và nhiều người gây ra tội ác đã không còn nữa. Nhật Bản vừa là kẻ gây ra tội ác chiến tranh, nhưng cũng đồng thời là một nạn nhân. Việt Nam thấu hiểu Nhật Bản ở tư cách của một quốc gia bị chiến tranh tàn phá. Hai quốc gia nhất loạt khép lại quá khứ, hướng tới tương lai. Thực tế, Nhật Bản cũng rất thiện chí đền bù, họ luôn xác định rằng các nạn nhân của nạn đói đều ở miền Bắc và họ muốn đền bù cho Chính phủ VNDCCH – đại diện cho miền Bắc Việt Nam.

Đó là vì sao mà hai bên rất nhanh chóng đi đến các thỏa thuận dàn xếp khắc phục hậu quả chiến tranh. Việt Nam chính là quốc gia cuối cùng mà Nhật Bản tiến hành các đàm phán về việc khắc phục hậu quả chiến tranh. Và cũng là cuộc đàm phán nhanh nhất về vấn đề này. Cuộc đàn phám cuối cùng này đã tháo gỡ cái gông cùm “tội ác chiến tranh” cho Nhật Bản, nhưng cuối cùng, người Hàn lại mang nó trở lại.

Một phần nữa, khiến Việt Nam không lớn tiếng đòi hỏi đền bù như Hàn Quốc vì phúc lợi cho những nhóm người yếu thế, như thương binh, nạn nhân chiến tranh khá tốt. Tại Việt Nam, gần như không có các trường hợp kiện cáo liên quan đến phúc lợi xã hội thời kỳ chiến tranh xảy ra, nếu có, thì thường liên quan đến các vấn đề xác định đối tượng hơn. Còn phía Hàn Quốc thì có, chính vì che lấp đi những sai phạm, phía Hàn Quốc muốn chĩa mũi sang phía Nhật Bản.

Xem thêm: Những vụ thảm sát kinh hoàng của lính Hàn Quốc tại Việt Nam

Một yếu tố khiến người Việt không “đay nghiến” chuyện tội ác chiến tranh là xuất phát từ lịch sử.

Trong lịch sử, đặc biệt là thời phong kiến, Nhật Bản và Trung Quốc chưa bao giờ xem Hàn Quốc là một quốc gia ngang hàng, nếu không muốn nói là chư hầu, thuộc địa. Chính vì sự mặc cảm đó, nên Hàn Quốc duy trì một thái độ tương đối thù địch với Nhật Bản, họ muốn vượt Nhật Bản, muốn vượt qua khỏi tâm thế yếu kém trong quá khứ. Vì thế, họ chấp nhận đào sâu vào vấn đề tội ác chiến tranh, bắt ép Nhật Bản phải “nhận thua”.

Còn với Việt Nam, tâm thế khác hẳn. Trong lịch sử, Việt Nam khá “bướng”, mặc dù ở ngay dưới Trung Quốc, đánh nhau liên miên, lễ vật cho Trung Quốc khá nhiều, nhưng các triều đại Việt Nam vẫn duy trì một tâm thế độc lập, tự chủ. Tức là mặc áo long bào, có ấn tín riêng, không chấp nhận cử thái tử kế thừa đi học tại Trung Quốc, đi sứ Trung Quốc thì cứ thẳng tiến cổng chính mà bước vào… Còn với Nhật Bản, mối giao hảo trong quá khứ cũng tương đối lành, vì vốn hai quốc gia ở xa nhau. Và còn có lúc, Việt Nam gián tiếp giúp Nhật Bản thoát khỏi nhiều lần bị đe dọa chủ quyền lãnh thổ. Việc năm lần bảy lượt đòi đền bù, rồi lôi nạn nhân ra mặc cả xem ra không được đúng cho lắm với cái tâm thế ngang bằng giữa Việt Nam và Nhật Bản, hay Việt Nam với Trung Quốc. 

Việt Nam tuyên bố đứng về phe Đồng Minh và khối Đồng Minh đã thắng trận. Nhưng Việt Nam không hề đòi bồi thường hay lợi lộc gì cả, Việt Nam chỉ quan tâm đến đánh đuổi Nhật và có lại được nền hòa bình. Đó là vì sao, những khoản tiền đền bù đền không phải là mục tiêu tối thượng. Còn Hàn Quốc thì khác, họ sẵn sàng từ bỏ tâm thế “kẻ thắng trận” để theo đuổi vụ việc đòi đền bù.

Nhật viện trợ ODA cho Việt Nam không phải là bồi thường chiến tranh!

Nhiều người sẽ bảo rằng: Nhật viện trợ ODA cho Việt Nam coi như là khắc phục hậu quả chiến tranh rồi. Điều đó sai bét, bản chất ODA từ Nhật Bản là nguồn tiền mà chúng ta phải đánh đổi bằng tài nguyên, bằng việc ưu đãi cho các quốc gia cung cấp vốn ODA hoặc sẽ phải trả trong tương lai. Nói thì vấn đề này thì dài, nhưng tóm gọn lại, chưa có bất cứ văn bản chính thức nào giữa hai quốc gia coi ODA là “đền bù hậu quả chiến tranh”.

Nhìn những nạn nhân của tội ác chiến tranh tại Hàn Quốc cầm băng rôn, đứng xếp hàng ở vỉa hè, biểu tình đòi kiện cáo ngày này qua tháng nọ. Mình liên tưởng đến một khả năng, nếu các mẹ Việt Nam anh hùng, các bác thương binh hay người thân của họ cũng làm như vậy, thì sẽ thế nào? Trước tiên, đó là lỗi của chúng ta, những thế hệ sau, đã không tròn trách nhiệm, nghĩa vụ với người đi trước. Sau đó, là cảm giác như kiểu đem sự thương đau ra nhắc đi nhắc lại vậy.

Hòa giải, không có nghĩa là lãng quên một cách vô tình hay cố ý những tội ác, xung đột trong quá khứ hay nỗ lực, mặc cả dựa để đạt được các quyền lợi kinh tế. Hòa giải, ở đây, là làm việc cùng nhau, đối diện với nhau, coi quá khứ như một bài học để hướng đến tương lai.

Tifosi