Văn hóa Việt Nam

Vì sao gọi “trong Nam, ngoài Bắc”, “vô (vào) Nam, ra Bắc”?

Cách gọi "trong Nam, ngoài Bắc", "vô Nam, ra Bắc" hay "vào Nam, ra Bắc" bắt nguồn từ danh xưng "Đàng Trong" - "Đàng Ngoài" vào thế kỷ 17 và 18. Tại sao lại có cách gọi như vậy? Mời các bạn cùng Khám Phá Lịch Sử tim hiểu nhé.
10

Tiếng Việt chúng ta khi nói “Trong” tức là trung tâm so với “Ngoài”; bao giờ “Trong” cũng có vai vế hơn (về mặt thực tiễn) so với “Ngoài”. Ta nói “Trong kinh thành, Ngoài biên ải”, chớ không ai đi phân định “Trong biên ải, Ngoài kinh thành” hết.

Trong một số trường hợp, “Trong” còn mang tính chất mật thiết hơn so với “Ngoài”. Ta nói “Trong nhà, Ngoài lộ”, chớ không ai đi nói “Trong lộ, Ngoài nhà”.

Cái thuở nước Việt chưa phân chia hai miền (chúa Nguyễn, chúa Trịnh) mà Thăng Long còn làm kinh đô chung, người ở Trong kinh kỳ khi ngó ra chốn mù khơi như Bình Định gọi là ngó ra Ngoài biên ải.

Bản đồ Việt Nam năm 1895 (cuối thời Nguyễn)
Bản đồ Việt Nam năm 1895 (cuối thời Nguyễn)

Nguồn gốc cách gọi Đàng Trong – Đàng Ngoài

Đến thời phân tranh Trịnh – Nguyễn, lấy ranh giới nơi sông Gianh (Quảng Bình) mà phân chia đất nước. Nói “Nam hà” 南 河 để chỉ lãnh thổ từ phía Nam sông Gianh trở vô, “Bắc hà” 北 河 để chỉ lãnh thổ từ phía Bắc sông Gianh trở ra. Nhưng, danh xưng chính thức thì không gọi Nam hà – Bắc hà, mà gọi là: Đàng Trong – Đàng Ngoài.

Lạ không, lẽ ra phải gọi toàn lãnh thổ phía bắc sông Gianh là “Đàng Trong” bởi nó có kinh đô Thăng Long; còn toàn lãnh thổ phía nam sông Gianh lẽ ra phải gọi là “Đàng Ngoài” (bởi nằm quá xa Ngoài biên cương luôn, vượt qua Phú Yên, vượt tới Cà Mau mịt mù) mới phải chớ?

Nhưng, hoàn toàn ngược lại!

Cõi phía nam được gọi là “Đàng Trong”, còn cõi phía bắc dầu có kinh kỳ Thăng Long đi nữa nhưng lại trở thành “Đàng Ngoài”.

“Đàng” (Đàng Trong, Đàng Ngoài) nghĩa là gì? “Đàng” = “đường”, nhưng “đường” ở đây không phải là “con đường” (Nếu tưởng như vậy, không lẽ “Đàng Trong” nghĩa là… Trong con đường, “Đàng Ngoài” là… Ngoài con đường? Nghe xong, khỏi hiểu luôn)

Trong Hán tự (nên nhớ trước khi có chữ Quốc ngữ, tiền nhân chúng ta xài Hán tự), “đường” có nhiều nghĩa. Ở đây, “đường” được viết 塘 , nghĩa là “con đê” (đê sông 河 塘 ; đê biển 海 塘)! Cách gọi này có liên quan tới Đào Duy Từ (1572- 1634), ông là người nghĩ ra cách xây lũy phòng thủ cho chúa Nguyễn (“Lũy Trường Dục”, còn gọi là “Lũy Thầy“). Hệ thống lũy này nhìn như con đê.

Lực lượng của chúa Nguyễn đóng phía Trong con đê, thành thử gọi “Đàng (đường) Trong”, nằm về phía Nam. Còn lực lượng chúa Trịnh ở phía Ngoài con đê, thành thử gọi “Đàng (đường) Ngoài”, nằm về phía Bắc.

Trong gần hai thế kỷ (thế kỷ 17, 18), cõi phía Nam sông Gianh liên tục được mở rộng và trải dài tới Cà Mau là cõi có kinh tế phồn thịnh hơn, có văn hóa cởi mở hơn so với cõi phía bắc sông Gianh.

Giáo sư Li Tana ở Đại học Quốc gia Úc khi nghiên cứu về Đàng Trong, bà đánh giá công trạng của Chúa Nguyễn Hoàng tương đương với công trạng của Ngô Quyền. Nếu Ngô Quyền, vào thế kỷ 10, đã mở đầu nền tự chủ lâu dài cho một nước Việt với lãnh thổ khoanh lại ở miền Bắc và phía bắc miền Trung, thì Chúa Tiên (Nguyễn Hoàng), vào thế kỷ 17, đã mở ra một thời kỳ mới cho nước Việt với lãnh thổ mở rộng cho tới tận Cà Mau. Nói rõ hơn nữa, Đàng Trong của các Chúa Nguyễn trở thành một trung tâm phát triển mới, một sinh lực mới cho nước Việt.

Cách gọi Đàng Trong – Đàng Ngoài, dễ thấy đây là “hệ qui chiếu” được nhìn từ tọa độ của phía Nam. Và, danh xưng này được ghi chép vào lịch sử – bởi sức ảnh hưởng tự thân của nền kinh tế, xã hội của cõi phía Nam sông Gianh.

Đến cách gọi “trong Nam, ngoài Bắc”, “vô Nam, ra Bắc” hay “vào Nam, ra Bắc”

Thực tiễn phát triển của mỗi miền (Nam phát triển hơn Bắc) đã ghi dấu ấn rõ rành vào Trong ngôn ngữ, thể hiện qua danh xưng: cõi phía Nam mới là “Đàng Trong”, cõi phía Bắc là “Đàng Ngoài”, đó là thực tiễn lịch sử Trong thế kỷ 17, 18.

Dòng sử Việt dù đã đi qua thời kỳ định cõi riêng biệt giữa chúa Nguyễn với chúa Trịnh nhưng dấu ấn lịch sử vẫn còn lưu lại Trong lời ăn tiếng nói của người Việt cho tới hiện nay – gọi Trong Nam, Ngoài Bắc là bởi vậy đó!

Và, tới đây chúng ta dễ dàng hiểu vì sao gọi “Vô Nam” (vào Nam), mà không gọi “ra Nam”. Bởi vì Nam là “Trong” (Đàng Trong), nên người Việt mình khi nói “vô (vào)” tức là vô (vào) bên Trong, chớ không ai đi nói “ra bên Trong” hết.

Cũng vậy, gọi “ra Bắc”, bởi vì miền Bắc là “Ngoài” (Đàng Ngoài) nên khi ta nói “ra” tức là ra bên Ngoài, ra phía Ngoài, chớ không ai đi nói “vô (vào) bên Ngoài” hết.

Ngay cả hiện nay, dù miền Nam không còn như trước kia, nhưng luồng di dân từ Ngoài Bắc kéo vô Nam để định cư, kiếm sống vẫn tiếp diễn hết năm này qua năm khác. Còn số người từ trong Nam đi ra Bắc để định cư ít hơn hẳn.

Lịch sử Việt Nam

Ruộng đất, thuế má và kinh tế thời phong kiến

Trong cơ cấu kinh tế thời phong kiến, nông nghiệp chiếm một vị trí trọng yếu mang tính sống còn của quốc gia. Cho nên nếu muốn phân tích về kinh tế thời phong kiến thì có 2 vấn đề quan trọng cần đề cập tới đó là: Phân phối ruộng đất và thuế má.
11

Thuế là nguồn thu nhập chính của quốc gia, quốc khố đầy đủ mới có thể mộ binh, tuyển lính bảo vệ biên cương, mới có thể trả lương cho quan lại, nha dịch, mới có thể xây dựng đường sá, thành quách công trình, mới có thể cứu trợ dân chúng gặp thiên tai, vân vân và vân vân, trăm sự đâu cũng cần tiền. Cho nên nếu bảo rẳng một vị vua hiền chăm chăm giảm sưu thuế, giảm lao dịch cho dân, thì loại vua này hiền cũng hiền thật nhưng ngày mất nước cách cũng chẳng xa nữa.

Vì vậy vấn đề ở đây không phải là đánh hay không đánh, giảm hay không giảm mà vấn đề nằm ở chỗ: Đánh thuế như thế nào?

Khác với thời hiện đại, thuế suất được đưa ra lũy tiến: người có thu nhập cao đóng cao, người có thu nhập thấp đóng thấp thì ở thời phong kiến thường lại hoàn toàn ngược lại. Thời phong kiến hầu như chỉ có một loại thuế suất đánh chung cho toàn dân, hoặc tùy theo sản lượng, chất lượng ruộng đất. Chẳng hạn lấy ví dụ như thuế suất thời Nguyễn thì đánh theo vùng, chia các ngạch theo mức thu hoạch tốt – xấu.

Trong khi đó: Giới quan lại – quý tộc – công thần – địa chủ nhờ là tầng lớp đặc quyền trong xã hội, họ có tiền, có quyền và có “lực”, thuế thường không đánh được tới đầu họ, có rất nhiều cách để những giới này lách tiền đóng thuế. Cho nên hình thành một cái bất công trong xã hội phong kiến là: kẻ có nhiều tiền, nhiều ruộng đất tốt lại đóng thuế ít, kẻ ít ruộng, ruộng xấu, thậm chí không có ruộng phải đi làm tá điền thì lại chịu thuế rất cao. 

Vấn đề này sẽ càng trở nên trầm trọng vào cuối mỗi triều đại khi xảy ra vấn đề thôn tính và tập trung đất đai. 

Thôn tính và tập trung đất đai là một xu thế không thể tránh khỏi của bất kỳ triều đại phong kiến nào. Nó bắt nguồn từ cả nguyên nhân kinh tế lẫn nguyên nhân về chính trị.

Nguyên nhân kinh tế là do đi kèm với quá trình sản xuất nông nghiệp, đất đai dần dần sẽ tập trung vào trong tay một số ít người có khả năng làm tốt và giỏi quản lý. Người làm giỏi họ sẽ có nhiều tiền của hơn, mua thêm được nhiều ruộng đất của những người làm kém và cứ thế tài sản sẽ tích lũy dần dần tạo nên quá trình thôn tính và tập trung ruộng đất vào trong tay một số ít người, hình thành nên lớp: địa chủ, và những người không còn ruộng đất để canh tác sẽ phải đi làm thuê và hình thành nên lớp tá điền. 

Ban đầu việc thôn tính này sẽ làm tăng hiệu suất của việc trồng trọt, sản xuất bởi vì tăng cao hiệu quả và ích lợi bằng quy mô lớn.

Nhưng dần dần, càng về sau nó sẽ càng bộc lộ những mặt trái của mình. Bởi vì, thường những kẻ tham gia vào quá trình thôn tính ruộng đất này là các gia tộc công thần khai quốc, hoặc lớp quý tộc – địa  chủ, họ nắm quyền lực rất lớn trong tay. Kể cả không phải là trọng quan của triều đình thì khi tiền tích lũy đến một lúc nào đó nó sẽ thành quyền, có quyền thì sẽ có lực. Hình thành nên cái tình trạng là: Quan lại địa chủ cấu kết nhau để trốn thuế, phần thuế không thu được dân đen lại phải gánh.

Và cũng bởi vì chính sách thu thuế cố hữu thời phong kiến, vào đến giai đoạn này, thuế thu được của triều đình sẽ giảm sút, một thực trạng chênh lệch xảy ra kẻ nghèo đóng thuế cao, kẻ giàu đóng thuế thấp. Câu dân giàu nước mạnh không còn đúng nữa, bởi vì thực tế là có nhiều gia tộc công thần – quan lại – địa chủ vẫn rất giàu có, nhưng quốc khố thì ngày càng ruỗng tuếch.

Kể cả khi các vua nhận ra vấn đề cũng khó mà xử lý được vì nếu điều chỉnh thuế và ruộng đất sẽ động chạm rất lớn đến quyền lợi của các công thần – địa chủ, chuyện mà một ông vua nào đó có ý nghĩ cấp tiến bị triều thần tạo phản giết chết đưa người khác lên thay là chuyện không hiếm lạ gì trong lịch sử.

Trong khi đó, triều đình cần phải có tiền, chiến tranh đánh giặc cần tuyển binh, dẹp loạn nông dân cũng cần có lính, trợ giúp thiên tai cũng phải mở kho lương, muốn có tiền phải tăng thuế, tăng thuế thì trăm thứ thuế lại đổ vào đầu dân nghèo, được mùa dân còn sống khó khăn huống chi những năm mất mùa, dân sống không nổi lại phải phản, lại phải dẹp, cái vòng tuần hoàn ác tính này sẽ làm triều đại phong kiến suy vi rồi cuối cùng sụp đổ.

Nhiều triều đại hết tiền bí thế đành xài cả chiêu: Cho phép mua quan bán tước công khai để lấy tiền lấp vào quốc khố, chuyện này xảy ra tràn lan ở cuối thời chúa Nguyễn nươc ta, nhưng khốn nỗi, đây chẳng khác gì uống rượu độc giải khát, quan trả tiền mua chức thì lại tăng cường bóp nặn dân đen để “lấy lại vốn” khiến tình trạng còn tệ hơn trước. Hoặc như Hồ Quý Ly chơi chiêu tiền giấy để gom tiền trong dân, và làm đổ sụp cả nền kinh tế vốn đang rất yếu đuối mong manh.

Cho nên khi một triều đại cũ sụp đổ, một triều đại mới thay thế với những thế lực mới, những công thần mới tất yếu sẽ reset lại, phân phối lại ruộng đất từ đầu, quá trình phân phối này càng hợp lý thì triều đại ấy càng lâu bền, nhưng chung quy lại thì cuối cùng nó cũng sẽ đi vào con đường giống như các triều trước đó.

============================

Để giải quyết vấn đề này ở thời phong kiến thì cách làm khả dĩ nhất là đa dạng hóa các ngành nghề, và phát triển thương nghiệp.

Xu thế thôn tính và tập trung ruông đất là xu thế không thể đảo ngược, nên thay vì phản phân phối ruộng đất thì nên có những công việc, ngành kiếm sống được cho những người không có ruộng, đó có thể là mở các xưởng chế tác đồ mỹ nghệ, đồ thủ công nghiệp, khai thác quặng mỏ, khai thác lâm thổ sản, dệt vải, trồng trà, nuôi trồng thủy hải sản và các sản vật từ biển khơi, đồng thời phát triển nội thương nghiệp và ngoại thương với nước ngoài. 

Tuy nhiên, nói miệng thì dễ, bắt tay vào làm thì sẽ thấy không dễ chút nào, nhất là đối với trình độ kỹ thuật và hạn chế địa lý của nước ta vào thời đó.

Minh Đức

Lịch sử Việt Nam

Nghệ thuật troll nhà Nguyễn của nhân dân Bắc Kỳ – Phong trào khởi nghiệp Lê Duy X

Vào giữa thế kỷ 19 – cụ thể là giai đoạn Pháp xâm lược Nam Kỳ - miền Bắc Kỳ đang có loạn lớn. Nhà nhà vót nứa làm giáo đi làm giặc, người người mạo xưng là Lê Duy… ( tự điền vào chỗ trống).
7

Trong lịch sử Việt Nam thời nhà Nguyễn phong trào nổi dậy không chỉ nhiều mà còn liên kết với nhau. Có kẻ nổi lên ở vùng này, xưng là Lê Duy A. Bị triều đình đánh thua chạy sang vùng khác, lại đổi xưng thành Lê Duy B, rồi hoặc chạy về dưới trướng một anh Lê Duy C nào đó. Phải chăng đây là một trong những lý do giải thích cho nguyên nhân “Vì sao Nhà Nguyễn để mất nước?

Hỏa thương trên cửu đỉnh thời Minh Mạng
Hỏa thương trên cửu đỉnh thời Minh Mạng

Kết quả là đến khi nhà Nguyễn tra xét đám loạn đảng thì muốn ngất xỉu với một cái hồ sơ lý lịch rối loạn như thế này:

Viên Khâm phái là Bùi Quỹ tra xét tội bọn đầu sỏ giặc ở Sơn Tây là Lê Duy Hòa (tức tên bị bắt trước, tự xưng là Minh chủ Duy Huân. Đến bây giờ tra ra là Lê Duy Hòa, con Duy Đạo, cháu Duy Cự, Duy Uân. Con Đào Trí Phú là Mỹ, còn Hồ Đình Hy là Thành, con Cao Bá Đạt là Nhạ, con Cao Bá Quát là Phùng, cũng suy tôn Duy Hòa làm Minh chủ).
Và Đỗ Lệnh Hựu (tức tên bị bắt trước là Tú Hựu, làm điều vát của giặc), tội ác rất nặng (cướp bóc xã dân, phá phủ Kinh Môn, kháng cự quan binh, sau khi trốn đi lại mưu làm loạn), xin xử tử bằng tội lăng trì (trừ tên Lương Nhuận cùng bị bắt đã chết trong ngục).

Vua cho là 2 tên can phạm ấy cung khai họ tên thế thứ dòng dõi vua Lê điên đảo, sự tích lạ lùng, chưa biết là thật hay giả. (Nhưng chúng cung xưng năm trước tên Đỗ Tảo mạo tên là Duy Minh, mà ở Nam Định lại bảo là Mai Ngọc Điển và tên bắt được trước xưng là Duy Huân, đến bấy giờ lại là Duy Hòa, lại xưng là Duy Minh, mà bọn giặc ấy còn nhiều đứa trốn tránh). Sai giam lại đợi bắt được các tên giặc trốn khác, sẽ xét xử một thể. Lại treo giải thưởng ở các tỉnh : Không cứ quan, dân ai bắt sống được Lê Duy Huân thưởng 100 lạng bạc, chém được thì 60 lạng. Bắt sống được giặc Kịch thưởng 60 lạng bạc, chém được thì 40 lạng bạc. Bắt sống được Lê Duy Đạo thưởng 50 lạng, chém được 30 lạng. Bắt sống được Cao Bá Phùng, Cao Bá Nhạ, Đào Trí Mỹ, Hồ Đình Thành đều thưởng 30 lạng, chém được đều 20 lạng).

Súng trường Flintlock trên cửu đỉnh thời Minh Mạng
Súng trường Flintlock trên cửu đỉnh thời Minh Mạng

Đó là chưa kể tình trạng tên giả bị…trùng. Như có mỗi cái tên Lê Duy Minh mà đến 3-4 người cùng dùng làm tên giả để nổi dậy. Khiến sự tình đã rối càng them rối.

Đại bác trên cửu đỉnh thời Minh Mạng

Bọn Phó lĩnh binh quan tỉnh Bắc Ninh là Vũ Văn Phùng ; Tri phủ Đa Phước là Nguyễn Hữu Chính ; Tri huyện Kim Anh là Tôn Thất Môi ; Bang biện là Nguyễn Tiến Lục, đánh giặc ở làng Linh Vệ, bắt sống được tướng giặc là lũ Lê Duy Minh. Vua cho là trận ấy vừa bắt được, chém được, đủ lừng lẫy tiếng, đem ngay ngân tiền thưởng cho để khuyến khích. Lại cho là Lê Duy Minh họ tên trùng điệp (năm thứ 1 thì giặc Tảo, năm thứ 12 thì giặc Hoà, năm thứ 14 thì giặc Phượng, đều mượn tên ấy xưng là con cháu nhà Lê) sai tra xét đến cùng, đó là Trần Hữu Phượng lại mượn tên để lừa người.

Xem thêm: 6 kẻ thù thật sự khiến Nhà Nguyễn thất bại trong chiến dịch Nam Kỳ

Phach Ho Nguyen

Nhân vật lịch sử

Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh nói về nhà Nguyễn

Xin cho tôi được chọn và trích dẫn ra đây một vài bài viết của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh từng kịch liệt phê phán vương triều nhà Nguyễn trong suốt nửa thế kỷ, nhằm giúp chúng ta có cơ sở thẩm định về quan điểm chính trị và học thuật của một số người làm công tác trong lĩnh vực nghiên cứu Sử học hiện nay.
13

Trong thư gửi ông Utơlây, ngày 16/10/1919, Nguyễn Ái Quốc viết: “Ngay trong cái cung điện Huế cũ kỹ và tối tăm, mà cuộc sống tù hãm, trụy lạc đã nhấn chìm những người sống trong đó vào sự nhu nhược, đến nỗi họ dửng dưng trước mọi việc diễn ra bên ngoài…

– Trong “Báo cáo gửi Quốc tế Cộng sản” ngày 21/9/1923, Nguyễn Ái Quốc viết: “Triều đình và vua quan (nhà Nguyễn) lệ thuộc tuyệt đối vào chính quyền Pháp. Họ bị chủ Pháp khinh bỉ và nhân dân ghét“.

– Trong bài “Nên học sử ta” đăng trên báo Việt Nam độc lập, ngày 01/02/1942, Nguyễn Ái Quốc viết: “Trước khi vua Gia Long bán nước cho Tây, nước ta vẫn là nước độc lập. Vì muốn giành làm vua mà Gia Long đem nước ta bán cho Tây. Thế là giang san gấm vóc tan tác tiêu điều, con Lạc cháu Hồng hoá làm trâu ngựa“.

-Trong bài diễn ca “Lịch sử nước ta“, do Việt Minh Tuyên Truyền Bộ xuất bản, tháng 2/1942, Nguyễn Ái Quốc đã viết về vua Gia Long như sau:

“Gia Long lại dấy can qua

Bị Tây Sơn đuổi, chạy ra nước ngoài

Tư mình đã chẳng có tài

Nhờ Tây qua cứu, tính bài giải vây

Nay ta mất nước thế này

Cũng vì vua Nguyễn rước Tây vào nhà

Khác gì cõng rắn cắn gà

Rước voi giày mả, thiệt là ngu si”.

Và Nguyễn Ái Quốc đã viết về vua Tự Đức như sau:

“Nay ta mất nước nhà tan

Cũng vì những lũ vua quan ngu hèn

Năm Tự Đức thập thất niên

Nam Kỳ đã lọt dưới quyền giặc Tây

Hăm lăm năm sau trận này

Trung Kỳ cũng mất, Bắc Kỳ cũng tan

Ngàn năm gấm vóc giang san

Bị vua họ Nguyễn đem hàng cho Tây!

Tội kia càng càng đắp càng dày

Sự tình càng nghĩ càng cay đắng lòng”.

Trong bài diễn ca này, Nguyễn Ái Quốc đã điểm những cột mốc lịch sử quan trọng như sau: “Năm 1794, Gia Long thông với Tây. Năm 1847, Tây bắt đầu đánh nước ta. Năm 1862, vua nhà Nguyễn bắt đầu hàng Tây“.

Xem thêm: Vì sao nhà Nguyễn lại để mất nước?

– Trong “Báo cáo đọc tại Đại hội các đoàn thể cách mạng Việt Nam ở nước ngoài” họp tại Thành phố Liễu Châu (tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc), vào tháng 3/1944, Nguyễn Ái Quốc đã phát biểu: “Năm 1862, vua Tự Đức ký hiệp ước bán nước, cắt nhượng ba tỉnh Sài Gòn, Biên Hoà, Mỹ Tho cho giặc Pháp“.

– Trong “Trả lời điện phỏng vấn của Dân quốc Nhật báo” (Trung Quốc), ngày 3/4/1949, Hồ Chủ tịch đã viết bài về Bảo Đại – Ông vua cuối cùng của vương triều Nguyễn như sau: “Vĩnh Thụy trở về nước với hơn 10.000 viện binh Pháp để giết hại thêm đồng bào Việt Nam. Vĩnh Thụy cam tâm bán nước. Vĩnh Thụy làm tay sai cho thực dân, là một tên phản quốc“.

– Trong quyển “Thường thức chính trị” do Nhà xuất bản Sự Thật ấn hành lần đầu năm 1954, Bác Hồ chỉ rõ: “Hơn 80 năm trước đây, đế quốc Pháp thấy nước ta người đông, của nhiều, bèn dùng vũ lực sang cướp nước ta. Giai cấp phong kiến (vua, quan) thì hủ bại hèn nhát, chỉ biết bán nước, không dám chống giặc“.

– Trong “Báo cáo về Dự thảo Hiến pháp sửa đổi” tại kỳ họp thứ XI Quốc hội khoá I, ngày 18/12/1959, Bác Hồ viết: “Giữa thế kỷ XIX, đế quốc Pháp bắt đầu xâm lược nước ta: Bọn vua quan phong kiến đã đầu hàng giặc ngoại xâm và bán nước ta cho đế quốc Pháp. Trong gần một thế kỷ, đế quốc Pháp đã cấu kết với giai cấp phong kiến để thống trị nước ta một cách vô cùng tàn bạo“.

Quan điểm của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đối với lịch sử là rất sòng phẳng, phân minh. Người không hề công kích các chúa Nguyễn. Cùng với việc kịch liệt phê phán Gia Long và Tự Đức, Người đã từng viết bài trên báo chí nước ngoài để đề cao tinh thần yêu nước của 3 ông vua thứ 8, thứ 10 và thứ 11 của vương triều nhà Nguyễn là Hàm Nghi, Thành Thái, Duy Tân. Trong báo cáo gửi Quốc tế Cộng sản ngày 12/7/1940, Nguyễn Ái Quốc viết: “Năm 1885 vua Hàm Nghi và năm 1916 vua Duy Tân đã đứng ra lãnh đạo chống Pháp“.

Chúng ta còn được biết thêm một sự kiện rất lý thú: Ngày 24/02/1920, Nguyễn Ái Quốc đã nhận được thư của Hoàng thân Vĩnh San (vua Duy Tân), gửi cho Chủ nhiệm báo L’Humanité về việc đòi độc lập cho Việt Nam. Trung tuần tháng 3/1920, Nguyễn Ái Quốc gặp hai đồng chí Mácxen Casanh, Giăng Lông Ghê và báo L’Humanité đã mời Nguyễn Ái Quốc đến trụ sở để bàn về vấn đề này.

Sau khi Đảng Cộng Sản Việt Nam ra đời, trải qua 15 năm hoạt động bí mật trong thời kỳ tiền khởi nghĩa, Đảng đã từng kịch liệt lên án vương triều nhà Nguyễn (Chính phủ Nam triều) và ông vua “bù nhìn Bảo Đại“.

– Trong Báo cáo chính trị đọc tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ I của Đảng (27-31/3/1935), đồng chí Tổng Bí thư Lê Hồng Phong chỉ rõ: Chính sách mới của đế quốc Pháp và mưu mô mới của bọn thống trị bản xứ là “trả quyền cho bù nhìn Bảo Đại, cải cách Nam triều, lập nguyên lão nghị viện. Thi hành các chính sách ấy, không phải trở lại điều ước nô lệ năm 1884 như nhiều người đã tưởng mà là kiên cố quyền thống trị của đế quốc Pháp“.

– Trong Nghị quyết của cuộc Hội nghị Trung ương lần thứ VI nổi tiếng (6-8/11/1939), do đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ trình bày, đã phân tích kỹ: “Chính phủ Nam triều Bảo Đại đã hoàn toàn bán mình cho đế quốc Pháp, làm tay sai đắc lực cho đế quốc trong cuộc đàn áp phong trào cách mệnh năm 1930-1931. Bảo Đại đã hoàn toàn làm nô lệ một cách vô liêm sỉ cho đế quốc“.

Qua một số ít tư liệu mà tôi trích dẫn trên đây, tự nó, đã xác minh quan điểm chính thống về Sử học của Bác Hồ và của Đảng Cộng Sản Việt Nam trong việc đánh giá vương triều nhà Nguyễn đã và đang bị một số nguời cố tình phản bác.

Quả thực cho đến nay, không phải trong giới Sử học ai cũng đồng thuận với khuynh hướng tư tưởng ấy. Ngay tại cuộc hội thảo lần này, không ít người như giáo sư Văn Tạo – nguyên Viện trưởng Viện Sử học đã khẳng định: Thống nhất đất nước của Tây Sơn là gắn với độc lập dân tộc và toàn vẹn lãnh thổ, còn thống nhất đất nước của vua Gia Long nhờ cắt đất dâng cho thực dân mà có được. Đây rõ ràng là có tội như ông cha ta đã từng phê phán là “Rước voi về giày mả tổ“, “Cõng rắn cắn gà nhà“.

Tại Thành phố Hồ Chí Minh trong nhiều năm qua, tôi biết rõ giáo sư Trần Văn Giàu – một nhà Sử học lão thành bậc thầy được cán bộ và nhân dân mến mộ, cũng đã giữ quan điểm đúng đắn trong việc đánh giá vương triều nhà Nguyễn. Chính vì lẽ ấy đồng chí Trần Văn Giàu đã không đồng tình với tác giả cuốn tiểu thuyết lịch sử viết về Phan Thanh Giản bằng lối văn hư cấu tuỳ tiện, thoát ly hiện thực lịch sử…

Theo dõi cuộc hội thảo được tổ chức với quy mô lớn tại tỉnh Thanh Hoá, được báo chí tuyên truyền rầm rộ, nhiều người dân Sài Gòn trước đây ngạc nhiên nói:

Những câu: “Gia Long cõng rắn cắn gà nhà“, “Rước voi về giày mả tổ“, “Phan Lâm mãi quốc, triều đình khí dân“,…đâu phải đến thời bây giờ mới có và đâu phải chỉ lưu hành riêng ở miền Bắc. Nhớ khi còn ngồi trên ghế nhà trường tại thành phố này qua các bậc trung học và đại học, chúng tôi đã từng nghe các giáo sư dưới chế độ cũ khi bước lên bục, đều giảng như vậy cả. Thế nhưng không hiểu vì sao, hàng chục năm qua, một số người làm công tác nghiên cứu Sử học ở miền Bắc lại tìm mọi cách để phản bác những câu đó?.

Không chỉ Bác Hồ, trong thế kỷ XX, các đồng chí lãnh đạo lỗi lạc của Đảng, Nhà nước và Quân đội ta (như Lê Hồng Phong, Nguyễn Văn Cừ, Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp…) cũng đều đánh giá vương triều nhà Nguyễn hoàn toàn nhất trí với quan điểm của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh. Không ai bài Bác và bôi nhọ thanh danh các chúa Nguyễn. Cũng chẳng có ai phủ nhận sự đóng góp của triều nhà Nguyễn trong các lĩnh vực phát triển kinh tế, văn hoá và văn nghệ…

Sử học là một trong những lĩnh vực hoạt động hết sức nhạy cảm và có tầm quan trọng sống còn trên trận địa tư tưởng. Nếu chúng ta không quan tâm chăm lo củng cố sự vững mạnh của ngành Sử học kể cả trên ba mặt: về chính trị, về tư tưởng và về tổ chức, ắt sẽ dẫn đến những hậu quả khó lường.

Nếu những vấn đề trên đây không được giải quyết rốt ráo, sẽ dẫn đến sự rối loạn về nhận thứctrong xã hội. Thật vậy, trong việc đánh giá vương triều nhà Nguyễn, hàng chục triệu nhân dân ta – nhất là một khối lượng rất lớn học sinh, sinh viên, nghiên cứu sinh đang ngồi học tập và viết luận án khoa học trên ghế nhà trường sẽ nghe và viết theo quan điểm của ai?

Nghe và viết theo sự chỉ dẫn của tư tưởng Hồ Chí Minh, theo quan điểm Sử học của Đảng ta, hay nghe và viết theo quan điểm của một số nhà nghiên cứu lịch sử đã và đang được công khai quảng bá trên các phương tiện thông tin đại chúng, trong cuộc hội thảo vừa qua tại tỉnh Thanh Hoá và trong những cuộc hội thảo trước đó.

Chúng tôi đặc biệt quan tâm đến chủ trương của Hội Khoa học lịch sử về việc gấp rút tiến hành chỉnh sửa sách giáo khoa phổ thông về Sử học và chuẩn bị biên soạn bộ quốc sử mới, như báo chí đã nhất loạt đưa tin. Đây là nhiệm vụ cực kỳ hệ trọng.

Chúng tôi hoàn toàn không yên tâm nếu như nhiệm vụ này được giao trọn gói cho những người đã từng đi chệch tư tưởng Hồ Chí Minh về Sử học và đã nặng lời công kích “phương pháp luận Sử học mác-xít ấu trĩ, giáo điều, công thức“. Vậy thì thử hỏi, nếu giao cho họ chỉnh sửa sách giáo khoa Sử học và biên soạn bộ quốc sử của nước nhà, họ sẽ đứng trên quan điểm lập trường nào và theo phương pháp luận Sử học của ai? Điều đó chắc chắn sẽ gây ra cho chúng ta những tổn thất không nhỏ trong lĩnh vực công tác giáo dục, cũng như trên địa hạt tư tưởng.

Xem thêm Robert J. McMahon: Hồ Chí Minh và cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc

Nguyễn Phước Hữu (Theo: Tạp chí Hồn Việt số 21, tháng 3-2009)

———————–

Đây là bài viết đăng trên dangcongsan.vn ngày 12/3/2009.

Lịch sử Việt Nam

Kiệu: Phương tiện di chuyển của người Việt xưa

Thời phong kiến triều Nguyễn, kiệu chỉ dành cho vua chúa. Quan lại triều Nguyễn không được phép dùng kiệu mà chỉ ngồi võng có mui che, được khiêng bởi 4 người lính.
11

Kiệu thời phong kiến triều Nguyễn

Sách Khâm định Đại Nam Hội điển Sự lệ, do Nội các triều Nguyễn biên soạn, đã dành hẳn chương Nghi vệ (quyển 79) để miêu tả các loại kiệu dùng cho vua quan triều Nguyễn, với những quy định rất cụ thể về tên gọi, số lượng kiệu cùng các nghi trượng đi kèm, tùy thuộc vào thời thế, địa vị và thứ bậc của người sử dụng.

Dưới triều vua Gia Long (1802 – 1820), xe kiệu của vua có 4 chiếc, gồm 1 chiếc Ngọc lộ, 1 chiếc Kim lộ và 2 chiếc Kim bảo dư. Sang triều Minh Mạng (1820 – 1841), vua có 5 chiếc, được đặt tên là Cách lộ, Kim lộ, Ngọc lộ, Tượng lộ và Mộc lộ. Tùy mục đích chuyến đi, nhà vua quyết định dùng loại “xe” nào.

Kiệu hoàng gia triều Nguyễn
Kiệu hoàng gia triều Nguyễn

Xem thêm: Những bức ảnh chụp hoàng gia triều Nguyễn

Sách cũng cho biết khi vua đi chơi thì không thực hiện đầy đủ nghi thức như khi vua đi cúng tế ở các đàn miếu. Lúc này nhà vua chỉ sử dụng 1 chiếc lọng vàng thêu hình rồng để che mưa nắng, có đội quân tiền đạo và hậu hổ đi theo hộ tống. Dưới triều Minh Mạng, nhà vua quy định: ngự giá đi trong phạm vi Hoàng Thành thì phải giảm bớt một nửa số cờ quạt và không cần voi ngựa hộ tống để tránh… “kẹt đường”.

Kiệu Vua Duy Tân
Kiệu Vua Duy Tân

Kiệu của hoàng thái hậu, gọi là Từ giá, cũng hoành tráng không kém, gồm 1 Phượng dư và 1 Phượng liễn. Lỗ bộ tháp tùng Từ giá có 2 lá cờ rồng, 2 lá cờ phượng, 2 lá cờ thanh đạo, 8 lá cờ phướn, 2 quạt thêu hình rồng phượng màu vàng, 4 quạt thêu hình rồng phượng màu đỏ, 4 quạt thêu hình loan phượng màu xanh và thêm 20 thứ binh khí hộ vệ.

Kiệu của thái tử chỉ có 1 chiếc, gọi là xe Bộ liễn. Lỗ bộ tháp tùng xe này chỉ có 1 cờ lệnh, 2 cờ xanh, 2 cờ đỏ, 2 cờ vàng, 2 cờ trắng, 2 cờ đen, 8 lá cờ phướn, 1 chiếc tán hình tròn thêu hình 7 con rồng, 4 chiếc tán hình vuông, 4 chiếc lọng màu đỏ, 6 lọng màu xanh vẽ rồng mây…

Cựu hoàng Hàm Nghi trên chiếc xe ngựa với ý trung nhân, Bà Laloe
Cựu hoàng Hàm Nghi trên chiếc xe ngựa với ý trung nhân, Bà Laloe

Kiệu thời Pháp thuộc

Sang triều Khải Định (1916-1925), nhà vua được người Pháp tặng cho một chiếc xe hơi nhân lễ Tứ tuần Đại khánh (mừng thọ vua 40 tuổi). Từ đó, ngoài việc dùng ngự giá truyền thống trong các dịp tế lễ, đôi khi vua Khải Định còn dùng xe hơi để du ngoạn hay đi săn bắn ở bên ngoài Hoàng Thành.

Trước đó, triều đình có cho dựng ở phía trước Ngọ Môn 2 tấm bia đá, trên bia có ghi 4 chữ Hán: Khuynh cái hạ mã, nghĩa là khi đi ngang qua đây thì mọi người phải nghiêng lọng và xuống ngựa. Kể từ khi vua Khải Định dùng xe hơi, thì 2 tấm bia này không còn thích hợp nữa. Vì thế, triều đình đã cho nhổ 2 tấm bia này đưa vào cất giữ trong kho của Bảo tàng Khải Định (nay là Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế).

Đây cũng là nơi đang trưng bày chiếc kiệu sơn son thếp vàng của vua Bảo Đại, dùng để đi lại trong phạm vi Hoàng Thành Huế. Ngoài ra, trong kho của Bảo tàng này đang lưu giữ chiếc kiệu mà vua Bảo Đại đã từng dùng khi đi tế Nam Giao vào năm 1935.

Kiệu dành cho người Pháp du lịch bãi biển Đồ Sơn
Kiệu dành cho người Pháp du lịch bãi biển Đồ Sơn

Sang đến thời kỳ Pháp thuộc, kiệu vẫn được sử dụng nhưng đối tượng dùng kiệu được mở rộng. Vào thời này, kiệu còn dành cho các quan thuộc địa người Pháp cùng gia đình và những chức sắc người bản xứ trong việc đi kinh lý hoặc ngoạn cảnh. Trong những bức hình du ngoạn bãi biển Đồ Sơn dưới đây, người khiêng kiệu đều là phụ nữ bản xứ, họ gánh kiệu trên 2 thanh gỗ ngang và kiệu được đặt trên 2 thanh dọc dài hơn.

Kiệu dành cho…
Kiệu dành cho… “Ông Tây, Bà Đầm”
Những người phụ nữ khiêng kiệu cho
Những người phụ nữ khiêng kiệu cho “bà Tây”

Vào thời phong kiến triều Nguyễn, kiệu chỉ dành cho vua chúa, quan lại triều Nguyễn không được phép dùng kiệu mà chỉ ngồi võng có mui che, được khiêng bởi 4 người lính. Đòn ngang của võng sơn son thếp vàng, khắc hình con giao long, đòn dọc của võng khắc hình con thú ứng với phẩm trật của vị quan ngồi trên võng.

Kiệu dành cho gia đình quan chức người bản xứ
Kiệu dành cho gia đình quan chức địa phương

Võng bằng lụa màu hồng. Mui che võng được quang dầu màu xanh để che mưa nắng. Quan lại trên hàng nhất phẩm thì có 4 người lính vác 4 chiếc lọng theo hầu, quan nhất phẩm chỉ có 3 lọng, quan nhị phẩm chỉ có 2 lọng và quan từ tam phẩm xuống đến cửu phẩm chỉ có 1 người vác lọng theo hầu.

Ngoài ra, những tân khoa thi đỗ đều được dùng võng để về làng “Vinh quy, Bái tổ”. Trong ca dao xưa có câu “Ngựa anh đi trước, võng nàng theo sau” để mô tả sự vinh quang của người học trò thành đạt.

Võng được dùng để phục vụ các quan lại trong triều
Võng được dùng để phục vụ các quan lại trong triều.

Tin người đỗ đạt được đưa về làng, hương chức, dân làng họp ở đình, cắt cử người ra gập Tân khoa để ấn định ngày vinh quy, rước về nguyên quán. Thường thì đỗ Tú tài chỉ làng xã rước, đỗ Cử nhân hàng huyện phải rước, đỗ Tiến sĩ thì hương lý, trai tráng hàng tổng đem đủ nghi lễ, cờ quạt đón từ tỉnh rước về làng. Tuy nhiên, những người trong họ quan Tân khoa được miễn làm phu phen đi rước.

Lịch sử Việt Nam

Vì sao nhà Nguyễn lại để mất nước?

Hôm rồi có một bạn, hình như là sinh viên, có hỏi mình "vì sao nhà nguyễn để mất nước?". Sau khi trao đổi với bạn ấy, mình tổng hợp lại nội dung để mọi người cùng thảo luận nhé.
11

Vì sao Nhà Nguyễn để mất nước? Là câu hỏi kinh điển mà học sinh hay sinh viên khoa Sử nào cũng phải thuộc lòng câu trả lời, đại khái thế này (theo sách giáo khoa chính thống bây giờ):

“Triều Nguyễn bạc nhược, chủ hòa, không được lòng dân, không chịu canh tân đất nước, quân đội thì lạc hậu, hèn yếu. Thực dân Pháp thì quyết tâm chiếm nước ta làm thuộc địa, đã cho các giáo sỹ đi thăm dò, biến giáo dân làm tay trong…”

Xem thêm: 6 kẻ thù thật sự khiến Nhà Nguyễn thất bại trong chiến dịch Nam Kỳ

Quan điểm của mình thì khác, với góc nhìn rộng hơn, để so sánh với các nước trong khu vực đã bị chiếm và không bị chiếm. Đầu tiên là so sánh với Thái và Nhật là 2 nước châu Á không bị làm thuộc địa.

Thái, lúc đó gọi là Xiêm (Siam), có kinh tế và quân sự tương đối cân bằng với Đại Nam (tên nước ta vào thời Tự Đức). 2 nước giao chiến với nhau lần cuối là vào thời Thiệu Trị (ngay trước vua Tự Đức), để giành quyền bảo hộ Chân Lạp (Campuchia). Kết quả là 2 bên ký hòa ước sau khi Nguyễn Tri Phương đánh bại quân Xiêm, Chân Lạp đồng ý nhận sự bảo hộ của cả Xiêm và Đại Nam và 1/3 nước Chân Lạp vẫn bị sáp nhập vào Xiêm, còn 2/3 còn lại đã được Đại Nam cho tái lập nước Chân Lạp sau gần 10 năm bị sáp nhập.

Tuy nhiên, Xiêm lại không bị chiếm làm thuộc địa. Như vậy tiềm lực quân sự và kinh tế không phải là yếu tố quyết định mà là vấn đề ngoại giao.

Xiêm lúc đó bị kẹp mặt Bắc và Nam bởi Malaysia và Miến Điện, đều là thuộc địa Anh, mặt Đông giáp Lào và Campuchia thì là thuộc địa Pháp. Anh và Pháp đều muốn chiếm nốt Xiêm. Vua Xiêm đã phải mở cửa giao thương với các cường quốc, bao gồm cả Anh, Pháp, Mỹ, Đức… Nhưng không phải chỉ có mở của mà thoát, họ cũng phải trả giá, cũng phải “bán nước” không khác gì vua Tự Đức đã cắt 6 tỉnh Nam Kỳ cho Pháp để cầu hòa.

Trước mối đe dọa về chủ quyền từ hai cường quốc phương Tây vào những năm cuối của thế kỷ XIX, Xiêm đã buộc phải ký hoà ước năm 1907 đồng ý cắt một số vùng lãnh thổ ở Lào và Campuchia và một khoản tiền lớn cho Pháp. Cái giá phải trả cho Anh cũng đắt tương tự, khi Xiêm buộc phải trả lại 4 tỉnh Kedah, Perlis, Kelantan và Trengganu cho Anh. Những hiệp ước này đã phần nào làm giảm áp lực của các cường quốc đối với chủ quyền của Xiêm và đảm bảo sự an toàn biên giới lãnh thổ của một quốc gia được quốc tế thừa nhận.

Tổng diện tích Xiêm phải cắt cho Anh và Pháp cũng không nhỏ hơn đất Nam Kỳ. Vậy sao vua Xiêm lại được coi là minh quân mà vua Tự Đức lại thành kẻ bán nước?

Sự khác biệt giữa Tự Đức và Rama III và Rama IV là mấy ông vua Thái đã chịu canh tân đất nước, còn vua Tự Đức thì không, nhưng đó không phải lý do quyết định, đã phân tích bên trên. 1 lý do mà ít ai nhắc đến, đó là sự may mắn là do Thái bị 4-5 cường quốc nhòm ngó, nên không nước nào muốn Thái thuộc về hẳn 1 nước. Thái năm cơ hội đó để đu dây về ngoại giao. Trong khi Việt Nam lúc đó chủ yếu bị Pháp nhòm ngó và nhà Thanh là nước bảo hộ lâu đời nhưng lại quá yếu so với Pháp.

Tự Đức đã từng cho người đi cầu viện Mỹ, Đức là những nước từng thắng trận trước Pháp, nhưng bị từ chối (do các nước này không quan tâm tới Việt Nam). Số phận đã buộc Tự Đức phải đi cầu viện nhà Thanh. Thực tế quân Thanh đã kéo sang đánh Pháp, cũng có 1 số trận thắng nhỏ. Quân Thanh từng kéo sang đóng khắp mấy tỉnh Lạng Sơn, Bắc Giang (Phủ Lạng Thương) và Bắc Ninh để đánh Pháp. Nhưng kết quả là quân Pháp đánh sang tận Quảng Đông và Đài Loan, khiến Thanh phải nhượng bộ để ký hiệp ước Pháp Thanh công nhận sự bảo hộ của Pháp ở Việt Nam. Như vậy Tự Đức không phải là không cố gắng bảo vệ nền độc lập, nhưng số phận không mỉm cười với Đại Nam như với Xiêm.

Xem thêm: Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh nói về nhà Nguyễn

Sự không may mắn thứ 2 với Tự Đức đó là quân dân Đại Nam không thuần như quân dân Xiêm. Khi vua đã ký hòa ước nhưng quân dân Đại Nam lại vẫn kháng chiến,gây thiệt hại cho Pháp, khiến họ có cớ để tiếp tục gây chiến ở HN (chiếm Hn 2 lần) trong khi mục đích của họ chỉ là tìm đường ngược sông Hồng sang buôn bán ở TQ. Kể từ khi vua Tự Đức ký hòa ước Nhâm Tuất 1862 với Pháp thì quân dân Việt Nam chưa bao giờ ngưng chiến. Pháp sẽ quy trách nhiệm đó cho vua Nguyễn và quyết tâm bình định toàn bộ nước Việt Nam cho đến khi không còn bất cứ cuộc khởi nghĩa nào. Trong khi đó, quân dân Xiêm lại tuân lệnh vua, không khởi nghĩa, thế nên Thái mới được hòa bình với Anh và Pháp cho dù vẫn bị mất đất.

Tranh minh họa Vua Tự Đức
Tranh minh họa Vua Tự Đức.

Trường hợp của Nhật thì khác hẳn, Nhật chủ động canh tân đất nước, nhưng thời gian đầu cũng phải chịu nhục với Mỹ, bị Mỹ áp bức về thương mại, để học hỏi họ. Nhật không có tài nguyên, cũng không phải có vị trí then chốt trên con đường giao thương quốc tế như Malaysia, Thái Lan hay Việt Nam. Nhật canh tân từ sớm nên nhanh chóng tự cường để đi đánh nước khác và thoát bị chiếm vì có sức mạnh ngang hàng với các cường quốc châu Âu. Vì vậy so sánh Việt Nam với Nhật là khập khiễng, so với Thái sẽ gần giống hơn.

Tóm lại, vua Tự Đức và các vua nhà Nguyễn tiếp theo như Dục Đức, Hiệp Hòa, Kiến Phúc, Hàm Nghi, Đồng Khánh (ký hiệp ước cuối cùng với Pháp Patenotre, hoàn chỉnh việc xâm lược của thực dân Pháp) đã để mất nước vì các lý do là thiếu năng lực chủ động canh tân để quốc gia giàu mạnh, tự cường nhưng lý do cơ bản nhất vẫn là ngoại giao cứng nhắc khi giết cố đạo (gây bất hòa với Pháp), cản trở tự do thương mại với các nước phương Tây. Lý do thiếu may mắn thường ít được các sử gia nhắc đến.

Xem thêm: Nghệ thuật troll nhà Nguyễn của nhân dân Bắc Kỳ

Quân dân Việt Nam với tinh thần dân tộc quá cao cũng là lý do cơ bản dẫn đến mất nước. Lý do đó khá oái oăm nhưng là thực tế, bởi vì có đánh nhau nữa thì cũng không thể thắng được Pháp, do tiềm lực quân sự chênh lệch quá lớn. Nếu đổ lỗi đó hoàn toàn cho nhà Nguyễn thì quá bất công vì dù sao so với khu vực thì Đại Nam lúc đó còn là hổ báo cáo chồn, trong khi Việt Nam bây giờ mới là yếu kém về kinh tế ngay cả trong khu vực. Hồi đó cả châu Á (trừ Nhật) là kém châu Âu, bị làm thuộc địa, chứ đâu phải mình Đại Nam. TQ còn bị 13 đại cường hấp diêm cơ mà. Ấn Độ cũng bị Anh xâm chiếm. May mà dân Việt Nam vẫn còn hiền lành chịu hàng Pháp đấy, không thì chắc dân Việt Nam bị xóa sổ gần như dân Maya bên châu Mỹ!

Biết bao giờ các sử gia Việt Nam mới có thể nhìn nhận khách quan về lý do mất nước?

Dương Quốc Chính

Lịch sử Việt Nam

6 kẻ thù thật sự khiến Nhà Nguyễn thất bại trong chiến dịch Nam Kỳ

Khi nhắc đến thất bại tại Nam Kỳ trong những năm 1858-1862, chúng ta thường giải thích nguyên nhân đơn giản là do nhà Nguyễn hèn yếu. Phe phù Nguyễn thì đi xa hơn, giải thích là do quân Pháp có vũ khí vượt trội ( Vd như súng tiểu liên, đại bác bắn 15 phát/phút,…vượt trội đến 80 năm so với trang bị thực của Pháp vào thời đó).
10

Nhưng thật ra có một nguyên nhân khác đáng xấu hổ hơn mà không người Việt nào đề cập đến trong lịch sử Việt Nam. Đây mới là nguyên nhân thật sự giải thích lí do vì sao nhà Nguyễn không thể dồn sức đánh chỉ 3000 quân Pháp mà thất bại thảm hại trong chiến dịch Nam KỳNội loạn.

Trong giai đoạn quân Pháp chiếm Nam Kỳ, ngoài quân Pháp, nhà Nguyễn còn phải căng mình ra đánh đến gần chục kẻ thù khác, lần lượt là:

1. Khởi nghĩa lương dân – giáo dân ở Bắc Kỳ

Đây được xem là trọng điểm loạn lạc vào thời đó. Tình hình ngoài Bắc thiên tai liên tục, như đê Văn Giang vỡ mười mấy năm liền. Vì thế, thói hoài cổ của dân chúng lại được dịp bùng phát. Một trong những người nổ phát súng đầu tiên là Cao Bá Quát. Ông này tự cho mình giỏi gấp đôi cả Trái Đất gộp lại, nên kích động dân chúng làm loạn. Quát tự xưng là quốc sư, tính phù Lê diệt Nguyễn, lập nên một triều đại ấm no hạnh phúc. Thế nhưng danh tiếng vượt quá thực lực, mộng đế vương chưa thành mà thân đã ăn đạn chết giữa trận tiền.

Khởi nghĩa Cao Bá Quát ( còn gọi là “ giặc châu chấu”) bị đàn áp, nhưng chỉ là phát súng mở đầu của một phong trào phù Lê đang dâng cao. Nhà nhà mạo xưng là Lê Duy…( cứ tự điền vào chỗ trống), người người vót giáo đi làm loạn. Bất kể lương-giáo, bà con đều hừng hực khí thế lật đổ triều đình thối nát để gầy dựng tân triều thịnh vượng trong tưởng tượng. Kết quả là miền Bắc từ chỗ “ vì đói mới đánh” bắt đầu rơi vào vòng lẩn quẩn “ càng đánh càng đói, càng đói càng đánh.” khi nông nghiệp hoàn toàn tê liệt, phải trông vào lúa gạo Nam Kỳ.

Đỉnh điểm của phong trào này là cuộc nổi dậy Tạ Văn Phụng. Thấu hiểu đại nghĩa khai hoá, ông giáo dân này đã mạo xưng là Lê Duy Minh, xúi dân nổi lên đánh triều đình. Đến 3 năm sau khi Nam Kỳ bị mất, Phụng mới bị tiêu diệt.

Xem thêm: Nghệ thuật troll nhà Nguyễn của nhân dân Bắc Kỳ

2. Phỉ Trung Quốc

Vào những năm 185X, nhà Thanh đã suy thoái trầm trọng. Loạn Thái Bình Thiên Quốc nổ ra, nhiều toán cướp người Tàu bắt đầu tràn qua biên giới cướp phá miền Bắc Việt Nam. Chỉ từ tháng 11/1858 -1859, nhà Nguyễn đã ghi nhận 2 toán cướp tràn vào Lạng Sơn và Quảng Yên ( Quảng Ninh). Toán thứ 2 đông đến 2000 tên, trang bị đủ loại gươm giáo súng đạn. Đang phải đàn áp nổi dậy ở miền đồng bằng, nhưng tỉnh Hải Dương phải chia thêm 500 quân sang tỉnh Quảng Yên để tiếp viện đánh giặc.

3. Dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên

Suốt 3 triều vua trước, chính sách cai trị sai lầm đã khiến các đồng bào thiểu số liên tục nổi dậy đánh triều đình. Minh Mạng không chấp nhận chính sách đàn áp diệt chủng, nhưng cũng không biết làm sao để chấn chỉnh cách cai trị cho hợp lý. Kết quả là tình trạng đâm qua chém lại cứ tiếp tục dai dẳng, thù oán ngày càng chồng chất. Nhà Nguyễn chỉ biết đối phó bằng cách xây đồn chốt chặn mọi con đường dẫn lên…miền núi. Đến thời Tự Đức, dân thiểu số từ Tây Nguyên vẫn tiếp tục tràn xuống miền duyên hải. Họ gồm nhiều nhóm độc lập – nổi tiếng nhất là dân Đá Vách. Các tỉnh Quảng Nam – gần sát Sơn Trà, nơi quân Pháp đổ bộ – rồi Quảng Ngãi, Bình Định đều bị tấn công.

Tháng 7/1858, ở Quảng Nam, trấn thủ nguyên Chiên Đàn bị giết. Ở Bình Định, nhà Nguyễn phải bỏ 6 đồn Nước, Tượng, Linh, Nghênh…, rút quân vào 2 đại đồn Nhiếp Man và núi Sắc Thạch cố thủ. Nói cách khác, nhà Nguyễn chỉ còn cai quản được miền duyên hải Nam Trung Bộ.

4. Hải tặc

Vào thời này, hải tặc hoành hành dọc bờ biển Việt Nam. Chỉ trong hơn một năm từ tháng 8/1858-1859, đã ghi nhập đến 4 toán cướp biển chia nhau tấn công vào Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà, Bình Thuận, Hà Tiên, tức gần như toàn bộ vùng duyên hải Nam Trung Bộ và Nam Bộ. Hải tặc không chỉ chặn cướp tàu bè trên biển. Ở Khánh Hoà, chúng kéo lên bờ cướp của đốt nhà. Ở Bình Định, Phú Yên, chúng đốt luôn đồn trại của quan quân.

Lúc này, ngoài Bắc đang mất mùa, loạn lạc. Tình trạng hải tặc cướp phá rồi sau đó là việc Pháp chiếm Nam Kỳ góp phần khiến đường tải gạo từ miền Nam tiếp tế ra Bắc coi như bị cắt đứt. Đẩy nhà Nguyễn vào tình thế nguy ngập.

* Hải tặc cũng là kẻ đã giết chết Võ Duy Dương – một trong ba lãnh tụ kháng chiến ở Nam Kỳ thời 1860s – khi ông này tìm đường ra Huế.

5. Cambodia

Ban đầu, Chân Lạp vẫn còn ở thế trung lập, toạ sơn quan hổ đấu. Nhưng chỉ 1 năm sau, Pháp chuyển quân vào Gia Định. Chân Lạp nhanh chóng hưởng ứng. Và dù chưa thật sự động binh, họ cũng buộc nhà Nguyễn phải tăng thêm quân dọc biên giới Việt-Cam, khiến lực lượng dùng để chống Pháp càng bị giảm bớt.

6. Hoa kiều

Là lực lượng ủng hộ Nguyễn Ánh thời phục quốc. Hoa Kiều – đặc biệt là vùng Nam Bộ- nhận được rất nhiều quyền lợi của nhà Nguyễn vì bản tính “ trung thành”, “ thông hiểu đại nghĩa”. Thế nên khi Pháp kéo vào Gia Định, bật đèn xanh cho mở cửa thông thương, Hoa Kiều liền trở mặt liệng luôn mấy tấm “ tiết hạnh khả phong” vào sọt rác. Trong tình cảnh Nam Bộ quá ít giáo dân, Hoa kiều chính là lực lượng hỗ trợ kinh tế mạnh cho quân Pháp. Chính họ đã tiến hành vét gạo miền Nam đem xuất khẩu kiếm lời, đem về cho Pháp số vốn đầu tiên để tiếp tục viễn chinh. Cũng chính họ đã khiến tình hình an ninh lương thực của Đại Nam – đặc biệt là miền Bắc – càng lúc càng trầm trọng, vì không còn gạo để xuất ra Bắc nữa.

Tranh vẽ
Tranh vẽ “quân giải phóng” Pháp húc đổ cổng thành Gia Định

Xem thêm: Vì sao Nhà Nguyễn để mất nước?

————————

Tổng kết: Bí quyết trăm trận trăm thắng nói đi nói lại chỉ có một

– Bước một: Rèn luyện ra tinh binh, làm sao cho binh sĩ thấy chết không lùi, thấy thua không nản thì mới dùng được.

– Bước hai: Củng cố khối đại đoàn kết toàn quân, toàn dân tộc.

– Bước ba: Phát huy sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại. Ra sức tranh thủ sự ủng hộ của “ cộng đồng quốc tế”, phân hoá sâu sắc kẻ thù.

Nước Pháp dù chỉ 4000 quân, nhưng có đủ 3 điều đó, thì “một mình đi vào sâu xứ lạ” mà vẫn không bại, ta còn biết nói gì nữa?

Phach Ho Nguyen

Văn hóa Việt Nam

Nguồn gốc, ý nghĩa, giá trị lịch sử và văn hóa của áo Nhật Bình

Hãy cùng tìm hiểu về nguồn gốc, ý nghĩa, giá trị lịch sử và văn hóa về áo Nhật Bình để thấy được cổ phục Việt Nam ngày càng đến gần hơn với thế hệ trẻ, giữ gìn những nét đẹp của văn hóa dân tộc.
11

Nguồn gốc áo Nhật Bình

Áo Nhật Bình là Triều phục dành cho cung tần nhất, nhị, tam, tứ giai và là Thường phục của hoàng hậu, công chúa. Áo Nhật Bình có nguyên mẫu là dạng áo Phi Phong thời Minh, là loại áo xẻ cổ, có dạng đối khâm, cổ áo to bản tạo thành hình chữ nhật ở trước ngực, dưới ức có dải vải buộc hai vạt áo.

Thường phục Nhật Bình được đặt định vào năm 1807 thời vua Gia Long và được duy trì cho đến cuối thời Nguyễn… tư liệu tranh ảnh đầu thế kỉ XX cho thấy bất kể hoàng hậu, công chúa hay cung tần đều vấn khăn vành, mặc áo Nhật Bình.

Nguồn gốc Áo Nhật Bình là áo Phi Phong của Minh triều Trung Hoa được nhà Nguyễn phát triển lên, là dạng áo Đối Khâm có cổ hình chữ nhật to bản, dùng dây buộc 2 vạt áo.

Áo Đối Khâm
Áo Đối Khâm

Do hoa văn ở cổ áo khi ghép lại tạo thành một hình chữ nhật ngay trước ngực người mặc, nên áo này gọi là áo Nhật Bình. Khắp thân áo trang trí theo thể thức hoa văn chính là dạng hình tròn khép kín, rải rác khắp áo đan xen với các hình phượng múa, hoa lá đính thêm các hạt tuyến lấp lánh. Ở tay áo đặc biệt có dải màu ngũ hành; lục, vàng, xanh, trắng, đỏ. Tuy nhiên quy chế tay dãy màu này lại không áp dụng trên loại áo Nhật Bình của bậc Hậu.

Áo Nhật Bình
Áo Nhật Bình

Ý nghĩa, giá trị lịch sử và văn hóa về áo Nhật Bình

Xuyên suốt chiều dài lịch sử Việt Nam, có thể nhận thấy qua ghi chép về điển lễ và phẩm phục triều nghi của nước ta, các đời Lý Trần Lê cho đến nhà Nguyễn đều được xây dựng dựa trên cơ sở của cùng các triều đại Trung Hoa như Hán, Đường, Tống, Minh nhưng theo lối “đại đồng tiểu dị”, vẫn mang những nét đặc sắc rất riêng của Đại Việt ta.

Sự học hỏi và phỏng theo quy chế của Trung Hoa điều này bắt nguồn từ tâm lý tự tôn, muốn sánh ngang với các triều đại phong kiến phương Bắc, điều này được thể hiện rất rõ ràng từ việc các vua Đại Việt trong nước đều xưng đế chứ không xưng vương, các triều đại khi lên đều đặt định phẩm phục và đặt định lễ nhạc theo văn hóa Hoa Hạ, coi mình là Trung Châu, Trung Hạ tức là trung tâm của một nền văn hóa khu biệt so với các sắc dân “man di”.

Theo quy chế nhà Nguyễn thì màu áo của bậc Hậu đều là màu vàng chính sắc, đôi khi là màu cam; còn bậc Công chúa đều là màu đỏ chính sắc, bậc Phi tần nhị giai là màu xích đào, bậc Tam giai là màu tím chính sắc và bậc Tứ giai là màu tím nhạt, bậc phi tần thấp hơn không có quy định trang phục này. Màu sắc áo của các mệnh phụ quy định dựa vào phẩm cấp của chồng. Bậc Nữ quan có trang phục đơn giản hơn hẳn, gần với áo Phi Phong nguyên mẫu nhất.

Vào thời Gia Long và Minh Mạng, quy chế còn đủ đầy, áo Nhật Bình thường phối với một bộ Xiêm y màu tuyết bạch, đội mũ Phượng tùy thứ bậc. Tuy nhiên về sau, nhất là từ thời Đồng Khánh trở đi, trang phục này thường phối với quần ống trắng và vấn khăn vành to bản, cho thấy quy chế thời kì cuối nhìn chung ở cung đình đã tối giản hơn hẳn. Sau khi thời Nguyễn kết thúc, bộ áo này trở thành bộ áo trang trọng của giới quý tộc được mặc vào một số dịp lễ và nhất là ngày cưới.

Trong xã hội ngày nay, chúng ta đang dần hướng về với những căn cước văn hóa của dân tộc, nỗ lực bảo tồn và phát triển giá trị truyền thống từ những trang phục truyền thống của Việt Nam. Rất nhiều cô dâu ở Huế từng một lần khoác lên mình chiếc áo Nhật Bình khi vái lạy bàn thờ tổ tiên trong ngày theo chồng, nhưng ngày nay nhiều người đôi khi lại không biết đó là kiểu trang phục có tên rất hay và in đậm giá trị của người Việt.

Tôi nhận thấy bên cạnh việc phát triển những yếu tố xã hội khác thì chúng ta cần phải lưu tâm phát triển, gìn giữ cho được giá trị riêng vốn có của trang phục truyền thống Việt Nam nói chung và Nhật Bình nói riêng.

Hiện nay, nhiều nhà may ở các thành phố lớn đã may, bán và cho thuê áo Nhật Bình. Đây cũng là mẫu trang phục gần gũi với nhiều cô dâu trong ngày cưới khi hành lễ trước ban thời gia tiên. Hình ảnh cổ phục Việt Nam càng ngày càng đến gần hơn với thế hệ trẻ, giữ gìn những nét đẹp của văn hóa dân tộc.

Áo Nhật Bình chính là một trong những trang phục mang yếu tố để thể hiện cái riêng, mang dấu ấn đậm chất cung đình trong triều đại quân chủ cuối cùng của nước ta.

Áo Nhật Bình và Phi Phong có khác nhau không? 

Xin phép thưa là không khác nếu xét về cấu trúc của các trang phục cổ Việt Nam. Nhận định trên có những lý giải sau:

– Về mặt nguồn gốc, Nhật Bình vốn dĩ là áo Phi Phong của Minh triều Trung Hoa được nhà Nguyễn phát triển lên. Cấu tạo cơ bản nó theo sát Phi Phong Minh và Thanh.

– Về mặt kết cấu may mặc, có thể khẳng định bắt đầu từ thời kì Bắc thuộc, các dạng thức may mặc của ta đều có sự học hỏi nhất định văn hóa phương Bắc. Các dạng áo như giao lĩnh, viên lĩnh, vân vân và mây mây khác trong đó có Nhật Bình đều dựa trên kết cấu may mặc từ phương Bắc để phát triển.

Nhiều bạn nghĩ rằng chỉ thay đổi vị trí nút, viền cổ… thì nó thành Việt phục cách tân? Thực sự tư duy như vậy chưa chuẩn. Chỉ nói riêng Phi Phong của Minh – Thanh, cũng chưa có quy chế ràng buộc chặt chẽ về độ dài áo, số lượng và vị trí nút… 

Nếu sau khi giản lược hóa các họa tiết Nguyễn để áo trở nên thanh cảnh hơn, vô tình đưa nó về giản tinh yếu nhất. Xin thưa, “Đại đồng tiểu dị”, vốn bản chất cái giống đã lớn vì vậy khi bạn giản lược hết các yếu tố “tiểu dị” đi thì cái áo vô hình chung sẽ trở về dạng cơ bản nhất của nó, sát với ban đầu vậy. Mà ban đầu của Nhật Bình thì ai cũng rõ, vốn là Phi Phong.

Vậy Nhật Bình khác Phi Phong như thế nào? 

Người nói là khác ở viền cổ, người nói khác ở tay ngũ sắc, người nói ở hoa văn trang trí…. Theo mình, các ý đều đúng, nhưng không đủ. Vì như mình đã trình bày ở trên, Phi Phong của Minh không có quy định rõ về tiêu chuẩn may, mặc cơ bản dạng thức áo, nên nếu họ thích họ vẫn có thể pha tay ngũ sắc (Vốn là phong cách của Thanh), Loan phượng ổ, viền cổ áo… miễn là không sai khác về kết cấu cơ bản, thì người Trung Quốc vẫn gọi đó là Phi Phong (Bạn nào tra các hiện vật áo tuồng kịch của Trung Quốc thời Thanh sẽ thấy họ chế áo Phi Phong tương tự Nhật Bình của Nguyễn đấy).

Làm sao để phân biệt áo Nhật Bình với áo Phi Phong?

Xin thưa đó là “Quy chế” hay nói hoa hòe hơn là “Điển chế” được nhà Nguyễn quy định. Tức là các vấn đề về hoa văn cổ áo, thêu ổ, màu sắc, người sử dụng, lễ tiết sử dụng đều được nhà Nguyễn quy định rất rõ trong Điển chế. Cái này Phi Phong của Minh – Thanh chắc chắn không có ghi nhận.

Chính những quy định về chế độ mũ áo này nó đã tạo ra các đặc điểm đặc trưng về cả bên ngoài (hoa văn, thêu, màu sắc) và nội hàm, ý nghĩa bên trong của Nhật Bình (tác dụng của áo, giá trị của áo) và làm nên sự khác biệt, bản sắc cho áo Nhật Bình của Nguyễn triều.

Áo Nhật Bình có “cách tân” được không?

Xin phép trả lời thẳng là “không”. Không thể có khái niệm “Nhật Bình cách tân” như hiện nay đang lạm dụng. Như đã giải thích ở trên, Nhật Bình vốn bản chất nó là loại áo lễ tiết, được hậu cung và mệnh phụ nhà Nguyễn sử dụng trong các dịp lễ lạt theo quy định rất chặt chẽ.

Các quy định này nó gò bó cả yếu tố màu sắc, trang trí bên ngoài và nội hàm bên trong. Nó ràng buộc vị thế của người sử dụng theo thứ bậc rất khắt khe thời phong kiến. Những điều này đã được ghi rõ trong điển chế của nhà Nguyễn và chỉ có thỏa được như vậy nó mới được chép và quy định là “Nhật Bình”.

Nếu muốn được gọi là “Nhật Bình cách tân” chỉ trừ trường hợp nhà Nguyễn còn tồn tại (Như Hoàng gia Nhật) và thay đổi quy chế đã định từ thời trước thì việc cách tân để đổi mới quy chế cũ mới diễn ra. Tất cả những sự thay đổi về kết cấu, đồ hình, màu sắc, mục đích sử dụng khác với quy định sẽ tự động loại bỏ nó ra khỏi khái niệm “Nhật Bình”.

Điều này nói đơn giản “Y phục xứng kì đức” – “Y quan thuận chế độ”, chế độ nào điển lệ y quan ấy thì “” mới là “”. Còn thay đổi điển chế cái áo lễ chế theo bất kì hướng nào rồi nói nó là “Cách tân” đều giống như việc bạn mặc bộ đồ sô gai để làm đám cưới rồi nói đó là đồ cưới cách tân vậy.

Nhìn lại hệ thống cổ phong chuyên nghiệp của các nước đồng văn Đông Á, mọi người sẽ nhận thấy, họ cách tân và phát triển dựa trên hệ dạng cấu trúc áo quần hoặc tập trung vào tiện phục, đồ thường. Việc cách tân các trang phục lễ nghi theo quy chế rất ít và ngày càng được loại bỏ, dần đi đến sự đúng và chân thật nhất trên mảng này. Đây là xu hướng chung mà ta cần theo.

Xét một mặt khác, việc thay đổi bản sắc văn hóa trên Nhật Bình để cách tân làm chúng ta mất đi cái đặc sắc của cha ông đã sáng tạo nên. Một phần trong tuyên truyền dễ gây lúng túng và hiểu lầm cho cộng đồng thế giới. Ví dụ như: “Dân Việt Nam mặc đồ cổ áo ngắn như Đường y của Hàn vậy (Nhật Bình cắt vạt)?”, “Sao cái áo ấy giống Phi Phong vậy (Nhật Bình giản lược hoa văn)?”… Việc này không phải là định hình văn hóa mà là làm lệch đi bản chất văn hóa của trang phục cổ Việ Nam.

Xem thêm: Những kiểu trang phục phổ biến trong lịch sử Việt Nam và các nước đồng văn

Xu hướng cách tân cổ phục là sai?

Cũng xin phép thưa, không sai mà là đúng hoàn toàn!

Nhưng cách tân phải dựa trên sự giữ vững bản sắc và tính chất trang phục. Tất cả mọi trang phục cổ đều có thể cách tân, nhưng cách tân không có nghĩa nó là trang phục đó. Các bạn có thể cách tân Nhật Bình, mình khuyến khích việc này vì như vậy có thể đem cổ phục vào số đông nhanh hơn. Nhưng không nên chú thích nó là “Nhật Bình” vì đơn giản mình đã giải thích rồi, nó không phải là Nhật Bình nữa. Nói nó là Nhật Bình chỉ gây tranh cãi thêm mà thôi.

Đồng thời, mọi sự cách tân trang phục cổ phải xác định được rõ yếu tố bản sắc dân tộc, tính chất đặc trưng của trang phục (hình thức và nội dung) để có sự lựa chọn và điều chỉnh cho đúng đắn. 

Xem thêm: Làm gì để bảo vệ “Quốc Phục” Việt Nam?

Vậy nên gọi “áo Nhật Bình cách tân” sao cho chuẩn?

Như mình đã viết, hãy học các nước Đồng văn, cách tân và gọi theo dạng thức cấu trúc, các bạn hoàn toàn có thể gọi nó là áo Phi Phong Nguyễn (Bản chất đã vậy thì không cần phải từ chối, điều này cha ông cũng thừa nhận) hoặc nếu sợ việc quá giống Trung Quốc nhạy cảm thì các bạn cứ gọi nó là “áo Đối khâm theo phong cách Nguyễn”. Việc này sẽ tránh gây tranh cãi và đi giải thích thêm, vừa không gây hiểu nhầm về cổ phục Việt Nam trong mắt bạn bè quốc tế.

———————

Tổng hợp từ: Đại Việt Phong Hoa, Theo dòng sử Việt

Nhân vật lịch sử

Thái tử Bảo Long: Hoàng tử cuối cùng của triều đại phong kiến Nhà Nguyễn

Thái tử Bảo Long được vua Bảo Đại sắc phong làm thái tử và là là vị hoàng thái tử người cuối cùng của triều đại phong kiến nhà Nguyễn cũng là vị Hoàng thái tử cuối cùng thời quân chủ Việt Nam.
11

Thái tử Bảo Long có tên thật là Nguyễn Phúc Bảo Long ( 4 tháng 1 năm 1936 – 28 tháng 7 năm 2007) .Ông là con trai của Hoàng đế Bảo Đại và Hoàng hậu Nam Phương. Ông có một em trai là hoàng tử Bảo Thắng, ba cô em gái là Công chúa Phương Mai, Công chúa Phương Liên và Công chúa Phương Dung. Tất cả đều ở Pháp.

Khi Hoàng hậu Nam Phương sinh Hoàng tử Bảo Long, súng thần công đặt trên Kỳ đài nổ 7 tiếng báo hiệu tin vui cho trăm họ. Ngay sau đó người đứng đầu chính quyền Pháp, đứng đầu các nước Đông Dương, các quan lại Nam triều tới tấp gởi điện về Huế chúc mừng. Tất cả trẻ con Việt Nam trên toàn quốc có cùng ngày sinh 4/1/1936 với Bảo Long đều được triều Nguyễn tặng áo quần và sữa.

Hoàng tử Bảo Long lúc nhỏ
Hoàng tử Bảo Long lúc nhỏ.

Năm Bảo Long ra đời cũng là năm khánh thành sân vận động Huế nên cái sân vận động có lòng chảo đua xe đạp đầu tiên ở Đông Dương này được mang tên sân vận động Bảo Long (Về sau đổi lại là sân vận động Tự Do, nay là sân vận động Huế).

Năm thái tử Bảo Long 3 tuổi thì được triều Nguyễn và Phủ Tôn Nhơn phong Hoàng Thái tử (vào ngày 7/3/1939). Hằng năm vào ngày sinh của Hoàng Thái tử, triều đình tổ chức sinh nhật gọi là lễ Thiên Xuân rất long trọng.

Thái tử Bảo Long
Nam Phương hoàng hậu có 5 người con (2 trai và 3 gái) trong đó người con đầu là thái tử Bảo Long.

Bảo Long bắt đầu học với một vị hoàng tộc uyên bác thuộc Phủ Tuy Lý Vương là nhà văn Ưng Quả. Sau ngày vua Bảo Đại thoái vị (30/8/1945) và được mời làm cố vấn cho Chính phủ cách mạng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Bảo Long trở thành Hoàng Thái tử và hoàng thái tử người cuối cùng của triều đại phong kiến nhà Nguyễn cũng là vị Hoàng thái tử cuối cùng thời quân chủ Việt Nam. Ông cùng 4 người em theo Hoàng hậu Nam Phương về sống ở Cung điện mùa hè (Cung An Định) và tiếp tục học tại Trường Đồng Khánh với học trò trăm họ.

Vốn học tiếng Pháp và sinh hoạt trong gia đình với cha mẹ cũng nói tiếng Pháp nên sau ngày cách mạng Tháng tám 1945, Bảo Long phải cố gắng lắm mới học được tiếng Việt. Thỉnh thoảng Bảo Long bị các cô giáo Đồng Khánh phạt quỳ quay mặt vào tường. Bảo Long ngoan ngoãn chấp hành. Nhiều hôm đi đón con, Hoàng hậu Nam Phương thấy con bị phạt đau lòng lắm nhưng cũng phải quay mặt đi để cho con thi hành xong giờ phạt. Ngoài giờ học, Bảo Long nhập bọn chơi với học trò bình dân, hát Tiến Quân Ca, tập đánh trận. Nhiều lần Bảo Long đánh nhau với bọn trẻ con Tây.

Năm 1947, Cựu hoàng Bảo Đại rời Chính phủ cách mạng và sống lưu vong ở nước ngoài. Hoàng Thái tử và 4 người em theo Hoàng hậu Nam Phương rời quê hương qua sống ở lâu đài Thorenz tại Cannes thuộc vùng biển nghỉ mát Côte d’Azur (Pháp). Tuy nhà Nguyễn đã cáo chung từ năm 1945, nhưng Cựu hoàng Bảo Đại và Cựu hoàng hậu Nam Phương vẫn gửi Bảo Long đi đào tạo về nhiều lĩnh vực.

Trước tiên Bảo Long học phổ thông ở Trường Roches tại Normandie, tiếp đến học Luật (Droit) và khoa học Chính trị (science politi-que) ở Paris, tiếp đến học sĩ quan tại trường quân sự nổi tiếng thế giới Saint-Cyr (1954) rồi trường Kỵ binh Saumur và ra trường với cấp bậc chuẩn úy (lieutenant) (1956).

Trong suốt những năm học hành, Bảo Long luôn tỏ ra một người thông minh, chăm chỉ, nghiêm túc. Từ sau ngày tốt nghiệp Bảo Long rơi vào khủng hoảng tinh thần trầm trọng. “Quốc trưởng” Bảo Đại bị Ngô Đình Diệm theo Mỹ bày trò trưng cầu dân ý hạ bệ một cách nhục nhã, tài sản riêng của Bảo Đại (tương lai sẽ là tài sản của Bảo Long) ở Việt Nam và Pháp bị chế độ Ngô Đình Diệm tịch thu. “Quốc trưởng” Bảo Đại trở thành người sống lưu vong trên đất Pháp. Do đó Bảo Long – con của Bảo Đại cũng là một kẻ sống lưu vong. Trong túi của Bảo Long không có bất cứ một giấy tờ nào ngoài tờ Hộ chiếu ngoại giao của một công dân trong khối Liên hiệp Pháp.

Chuẩn úy Bảo Long không được công nhận là một sĩ quan Pháp mà chỉ là một sĩ quan ngoại quốc. Cuộc khủng hoảng tinh thần này đẩy Bảo Long tìm đến cái chết. Bảo Long không tự tử mà lại gia nhập đội quân đánh thuê Lê Dương ( Légion étrangère ), đứng trong hàng ngũ quân đội Pháp chống lại nhân dân Algérie.

Xem thêm: Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh nói về nhà Nguyễn

Muốn có cái chết phi lý để xoá đi một hoàn cảnh phi lý, nhưng Bảo Long không chết mà chỉ chuốc lấy những lời phê phán nặng nề của bà con Nguyễn Phúc tộc và đồng bào Việt Nam. Tại sao một ông Hoàng Thái Tử Việt Nam lại đi làm lính đánh thuê (lính Lê Dương) cho Pháp? Không tiện trả lời câu hỏi này nên Bảo Long đã xin giải ngũ về làm nhân viên của một ngân hàng của gia đình bên ngoại. Từ đó ông xa lánh mọi hoạt động chính trị, ngoài giờ làm việc ở ngân hàng ông đắm mình suy ngẫm về ý nghĩa của cuộc đời.

Thái tử khi về già
Thái tử khi về già (ảnh: Internet).

Bảo Long không lập gia đình. Có thời ông sống chung với Isabel Ébey – một cô gái nạ dòng, đã có hai con, chuyên gia trang trí nội thất. Sau đó Isabel Ébey mất, ông không làm bạn với một người đàn bà nào khác nữa.

Ông không đồng tình việc Cựu hoàng Bảo Đại làm giấy kết hôn với bà Monique Baudot, nên khi Cựu hoàng qua đời (1997), trong tang lễ ông đã bị bà Monique làm khó dễ. Trên nguyên tắc, sau khi Cựu hoàng Bảo Đại qua đời, ông là người thừa kế, nhưng ông không thích chuyện rắc rối nên ông không tranh chấp gì với bà Monique cả.

Đến 49 ngày thọ tang Cựu hoàng (5/10/1997), ông cùng với gia đình Nguyễn Phước tộc tại Pháp tổ chức một đại lễ cầu siêu cho thân phụ – vị Hoàng đế cuối cùng của Việt Nam và tưởng niệm thân mẫu Hoàng hậu Nam Phương tại một ngôi chùa trong rừng Vincennes (Paris). Buổi lễ có đại diện các tôn giáo, các nhân vật chính trị từng làm việc với Cựu hoàng và đặc biệt là đông đủ bà con Nguyễn Phước tộc.

Do không sống với người Việt Nam, nên ông nói tiếng Việt rất khó. Tuy thế ông cũng đã cố gắng đọc Lời tưởng niệm dâng lên cha mẹ bằng tiếng Việt rất xúc động.

Hoàng Thái tử Bảo Long qua đời, không có người thừa kế, người em út của ông là hoàng tử Bảo Thăng (sinh năm 1943) được tiếp nhận tất cả tài sản và những bảo vật của triều Nguyễn do ông làm chủ từ sau ngày thân mẫu ông là Hoàng hậu Nam Phương qua đời (1963) đến nay.

Lễ Sắc Phong Hoàng Thái Tử Bảo Long năm 1939
Nhân vật lịch sử

Nguyễn Ánh trả thù nhà Tây Sơn, “cõng rắn cắn gà nhà”? và hai tiếng Việt Nam

Nguyễn Ánh có công thống nhất hai mảnh của đất nước làm một sau 175 năm phân cách (1627-1802) nhưng không thể xóa đi vết nhơ, thường được biết đến gồm: trả thù tàn ác nhà Tây Sơn , "cõng rắn cắn gà nhà" và là nguyên nhân khiến thực dân Pháp xâm lược Việt Nam sau này.
13

Mỗi dân tộc có đều có những hình ảnh biểu trưng, và Việt Nam cũng không ngoại lệ. Mỗi hình ảnh phản ánh một câu chuyện lịch sử. Con rồng cháu tiên làm ta nhớ về của Lạc Long Quân – Âu Cơ. Sông Bạch Đằng là bãi cọc của Ngô Quyền đuổi quân Nam Hán hay Trần Hưng đạo đánh chìm quân Nguyên. Áo vải cờ đào là Quang Trung đại phá 20 vạn quân Thanh.

Nhưng lịch sử không phải lúc nào cũng công bằng, lại dễ quên. Từ bé ai cũng được dạy nước ta là Việt Nam, dải đất mang hình chữ S. Nhưng có mấy ai nhớ được rằng những chuyện này có từ khi nào, và liên quan tới ai. Nhân vật đó chính là vua Gia Long.

Trước khi bắt đầu cũng có đôi điều người viết muốn nhắn nhủ bạn đọc. Thứ nhất là về việc đánh giá, nhìn nhận những sự kiện lịch sử và các tiền nhân. Thế giới luôn thay đổi, và con người ngày càng văn minh hơn, những thể chế, quan niệm đạo đức, phong tục tập quán xưa cũ, sai lầm hay bất công trong quá khứ dần bị đào thải.

Thế giới hiện đại không hoàn hảo, nhưng không nghi ngờ gì khi nói con người được tự do, và có một cuộc sống tốt hơn nhiều so với những thế hệ đi trước. Tuy nhiên khi đánh giá sử liệu, dùng góc nhìn hiện đại để áp dụng vào thời cũ là một sự bất công cho tiền nhân. Xấu – tốt, đúng – sai nên được đặt dưới những tiêu chuẩn xã hội đương thời.

Chân dung Nguyễn Ánh (vua Gia Long)
Chân dung Nguyễn Ánh (vua Gia Long). Ảnh: zingnews

Hoàn cảnh của Nguyễn Ánh

Nguyễn Phúc Ánh sinh năm 1762, là cháu nội của Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát – vị chúa của Đàng Trong. Đất nước bị phân làm hai từ hơn 100 năm trước thành 2 xứ Đàng Ngoài của vua Lê – chúa Trịnh và Đàng Trong của các chúa Nguyễn, chia cắt bởi Lũy Thầy ở Quảng Bình – một công trình chiến lược xuất sắc của Đào Duy Từ đã góp phần giúp lực lượng non trẻ của Nguyễn Hoàng và con cháu chống đỡ được những trận tiến quân từ Đàng Ngoài.

Trong khi Đàng Ngoài vẫn mang vẻ của những triều đại cũ và ảnh hưởng của phương Bắc, thì Đàng Trong là một cơn gió mới. Đất đai màu mỡ, sản vật trù phú cùng chính sách khai khẩn và mở mang bờ cõi của chúa Nguyễn đã biến vùng đất này thành một quốc gia hưng thịnh. Sự mở mang trong thương nghiệp cũng là một nét mới so với tinh thần bế quan tỏa cảng của Đàng Ngoài.

Năm 1765, Võ Vương qua đời. Trương Phúc Loan chuyên quyền, tống giam cha của Nguyễn Ánh, người nhẽ ra là vua kế vị, lập Nguyễn Phúc Thuần 12 tuổi để dễ bề thao túng, lấy hiệu là Duệ Tông. Đời sống nhân dân cực khổ. Nhà Tây Sơn, nhân thời cơ này nổi loạn, Nguyễn Nhạc dấy binh, lấy cớ phò Hoàng tôn Dương dành lại ngôi từ Duệ Tông.

Thấy có cơ hội giành lấy đất Đàng Trong lúc loạn lạc, Trịnh Sâm sai Hoàng Ngũ Phúc đem quân tiến đánh Phú Xuân. Chúa Nguyễn phải chạy vào Quảng Nam. Tây Sơn biết lực lượng không chống nổi họ Trịnh, bèn quy phục, sau xin đưa quân ra tiêu diệt nhà Nguyễn. Họ bắt được và giết sạch dòng họ nhà Nguyễn, lật mồ mả các chúa và cha của Nguyễn Ánh đổ xuống sông. Nguyễn Ánh may mắn thoát thân. Lúc này ông 15 tuổi.

Sự phân chia Đàng Trong và Đàng Ngoài
Sự phân chia Đàng Trong và Đàng Ngoài

Xem thêm: Nguồn gốc, ý nghĩa “Đàng Trong” và “Đàng Ngoài”

Nội chiến với Tây Sơn

Ba anh em Tây Sơn chia nhau chiếm giữ ba vùng. Nguyễn Lữ giữ thành Gia Định, Nguyễn Nhạc lên ngôi Thái Đức Hoàng Đế năm 1778, đóng quân ở thành Quy Nhơn. Nguyễn Huệ, với tinh thần hừng hực của tuổi trẻ và sau khi dễ dàng chiếm được thành Phú Xuân từ tay quân Trịnh, bỏ ngoài tai lời của vua anh mà tiến quân ra Bắc Hà, đánh tan tàn dư quân Trịnh, khôi phục lại ngôi cho nhà Lê. Sau lại tính đưa quân ra Bắc Hà một lần nữa, dẫn tới sự kiện Lê Chiêu Thống phải cầu viện nhà Thanh và bị Nguyễn Huệ đánh cho tan tác.

Phía Nguyễn Ánh, ông phải bôn ba, trốn chui nhủi ở những vùng đồng bằng ở Cà Mau. Sau đó, nhờ sự ủng hộ của cựu thần nhà Nguyễn, ông tập hợp quân đội, kéo về chiếm lại Gia Định. Nguyễn Ánh mau chóng cải tổ lại thành này, cho lập sổ đất, định thuế,… biến vùng Gia Định thành một kinh thành trù phú, và cũng là nơi để Nguyễn Ánh luyện quân sĩ.

Nhưng cái danh vua cũng chỉ giúp ông lôi kéo được “một tập hợp bề người viết hỗn tạp gồm những tôn thất kiêu hãnh với dòng dõi, tướng tá dũng cảm nhưng thô lỗ, hàng tướng đầy mặc cảm và nhớ tiếc quá khứ oanh liệt, các tay phiêu lưu Tây phương bừa bãi ngạo nghễ..” – theo Lịch sử nội chiến Việt Nam – Tạ Chí Đại Trường.

Mỗi lần Tây Sơn tiến quân là Nguyễn Ánh đều phải chịu thất bại, phải trốn chạy và lưu vong, sau đó lại tìm cách kêu gọi binh sĩ, dấy binh chiếm Gia Định và rồi lại bị đánh đuổi. Thất bại nặng nề nhất có lẽ là trận Rạch Gầm – Xoài Mút, với dấu ấn cầm quân của Nguyễn Huệ đã khiến quân Xiêm “ngoài miệng thì nói khoác nhưng trong bụng thì sợ quân Tây Sơn như sợ cọp”.

Tuy nhiên càng về sau khi đã có kinh nghiệm chinh chiến và có tổ chức binh lính bài bản, học tập theo lối đánh trận của Tây phương, đặc biệt là lực lượng thủy quân hùng mạnh, cái gai Nguyễn Ánh, rõ là cần phải dứt điểm sớm trong mắt nhà Tây Sơn, nhất là khi Quang Trung hoàng đế đã tạm yên phương Bắc. Tuy nhiên, năm đó Quang Trung mất, để lại thái tử Quang Toản mới 9 tuổi. Thái Đức hoàng đế đến viếng em bị đuổi về. Nhân thời con rắn mất đầu, lại rối loạn nội bộ, Nguyễn Ánh tiến quân tiêu diệt Tây Sơn.

Trong vòng 10 năm, ông đã giành lại được đất Đàng Trong của tổ tiên, và có lẽ ông cũng không hề có ý định tiến đất Bắc Hà, nếu như không vì Cảnh Thịnh (Quang Toản) vẫn đang tập hợp lại lực lượng để tiếp tục chiến tranh. Tình thế bắt buộc phải tiến công là một yếu tố quan trọng thúc đẩy công cuộc thống nhất đất nước sau này. Đánh thắng nhà Tây Sơn, Gia Long đặt tổng trấn Bắc Hà, cho bắt dòng họ Tây Sơn ra để tiêu diệt.

Thắng lợi này không thể bỏ qua vai trò to lớn của Nguyễn Ánh. Nhờ gốc gác vua chúa đã giúp ông kêu gọi được nhiều tướng sĩ và sự ủng hộ của người dân Đàng Trong. Người dân ở đây, nhờ công cuộc khai khẩn, mở mang đã được sống dưới một vùng đất màu mỡ, ít khắc nghiệt hơn, được che chở bảo vệ mà làm ăn, vẫn còn thương nhớ chúa Nguyễn.

Nguyễn Ánh khi Tây Sơn truy đuổi, được người dân cho ở nhờ, dẫu có sợ hãi đến nỗi phải lén lút mà vẫn đem thức ăn tới cho vị chúa lưu vong trẻ tuổi này. Ở Quy Nhơn, Bình Định, ngay tại thủ phủ của Tây Sơn, người dân truyền nhau câu ca dao :

“Cầu trời cho chóng gió nồm.

Cho thuyền chúa Nguyễn giong buồm trẩy ra.”

Nguyễn Ánh xướng lên kế hoạch giặc mùa, hễ có gió mùa thì đưa thuyền ra đánh, sau thì rút quân, là một chiến thuật phù hợp hơn cả khi đối chiếu tương quan lực lượng và điều kiện tự nhiên. Điều đó cũng thể hiện ông là một vị vua có tài chiến lược, dẫu được tôn làm đại nguyên soái lúc chỉ 17 tuổi.

Sự thiếu thốn về lực lượng cũng trui rèn cho vị tướng này cách dụng binh, tận dụng những thế lực có thể ủng hộ mà không để bị lép vế. Lòng kiên trì và biết nhẫn nhịn, tài dụng quân cũng giúp ông giành lại vương quyền, với những tướng của Tây Sơn bỏ về theo giúp như Nguyễn Văn Trương, tướng trung thành như Nguyễn Huỳnh Đức, quyết tử vì nghiệp vua như Võ Tánh.

Sự khôn khéo trong việc tiếp nhận và xây dựng vũ khí, tổ chức quân đội theo phong cách Tây phương đã tạo nên lợi thế cho Nguyễn Ánh sau này, đặc biệt là trong trận thủy chiến được xem là đẫm máu nhất lịch sử Việt Nam là trận Thị Nại, khi mà thủy quân của ông đã trở thành một lực lượng có đội ngũ và có kinh nghiệm chiến đấu.

Tuy nhiên, vấn đề khách quan lại chiếm một phần không nhỏ trong thắng lợi này, mà phải kể đến chính sự suy yếu trong nội bộ Tây Sơn. Đỉnh điểm là sự qua đời của Quang Trung Nguyễn Huệ. Trước khi mất, Quang Trung không thua trước quân của Nguyễn Ánh, và lần trở về lần này với mục tiêu dứt điểm lực lượng phiền toái này. Dù lực lượng của Nguyễn Ánh đã trở nên mạnh hơn nhiều so với những lần tiến công trước, tuy nhiên với cái uy của Quang Trung và tài mưu lược thì không thể không khiến quân Gia Định khiếp đảm.

Việc quân Tây Sơn trước đó cướp bóc làng mạc, phá hoại những thương cảng nhộn nhịp ở Cù Lao Phố, Hội An, thảm sát người Hoa đã khiến người dân Đàng Trong quay lưng với phong trào này, đặc biệt còn đến từ những thương lái phương Tây và người Hoa, những người mà sau này Quang Trung có xuống nước hi vọng được giúp đỡ cũng bị e ngại từ chối vì nỗi ám ảnh bị cướp bóc và tàn sát trước đó, đã quay cả qua mà giúp Nguyễn Ánh trung hưng.

Việc Quang Trung mâu thuẫn với Thái Đức Hoàng đế, sau này đem quân mà đánh đến tận thành của vua anh nhưng lại tha tội để tránh cảnh “nồi da xáo thịt”, cũng để thấy cái tính “người” của Quang Trung, tuy nhiên lại để hậu họa khi Nguyễn Nhạc dường như đã thỏa mãn với danh vọng và bỏ bê chiến sự, còn Nguyễn Lữ thì kém cỏi dẫn đến cơ hội cho Nguyễn Ánh lấy lại Gia Định mà làm bàn đạp để giành lại quyền lực.

Công lao của Nguyễn Ánh

Nguyễn Ánh đã làm được điều mà chưa tiền nhân nào làm được, đó là thống nhất hai mảnh của đất nước làm một sau 175 năm phân cách (1627-1802). Dải đất hình chữ S của nước ta lúc này được hình thành, kéo dài từ Lũng Cú đến mũi Cà Mau, với diện tích lãnh thổ rộng lớn nhất của đất nước từ trước giờ. Những cuộc nội chiến liên miên nay đã được chấm dứt.

Gần đây Việt Nam luôn nóng bỏng về chủ quyền của Hoàng Sa – Trường Sa, ngoài công khai phá của chúa Nguyễn, thì Gia Long chính là người đã đặt chủ quyền chính thức ở hai quần đảo này. “Vào năm Gia Long thứ 15 (1816) nhà vua lệnh cho thủy quân và đội Hoàng Sa đi thuyền ra Hoàng Sa để xem xét, đo đạc thủy trình” – Đại Nam Thực Lục.

Đại Nam Thực Lục
Đại Nam Thực Lục. (Ảnh wikipedia)

Việc ông cho cắm cờ ở đây cũng được những nhà ghi chép phương Tây xác nhận như Jean Louis Taberd. Các chúa Nguyễn trước đó đã đưa quân ra đây, tuy nhiên chỉ theo hình thức “đất này nghiễm nhiên là của mình“, là theo quan niệm Nho giáo. Tuy nhiên, Gia Long với sự tiếp cận ý thức hệ phương Tây, đã có góc nhìn toàn diện và xa hơn với thế cục.

Việc ông cho kéo cờ ở đây mang tính hành xử chủ quyền theo thông lệ quốc tế, và không bị một cuộc tranh chấp nào với phương Tây hay Đại Thanh. Trong thời hiện đại, chính sự khẳng định chủ quyền này là bằng chứng rõ ràng nhất để người Việt Nam có thể dựa vào mà khẳng định Trường Sa Hoàng Sa là của Việt Nam từ 200 năm trước, dưới thời vua Gia Long.

Cái tên “Việt Nam” cũng có được từ thời vua Gia Long. Tuy nhiên công lao của Nguyễn Ánh không chỉ đơn giản được nhắc đến do đó là cái tên nước hiện hành. Năm 1054, vua Lý Thánh Tông đã đổi tên nước thành Đại Việt, tuy nhiên triều đình Trung Hoa vẫn tiếp tục gọi và phong vương cho hoàng đế nước ta với những tên gọi đầy tính miệt thị như Giao Chỉ quận vương, rồi sau này là An Nam quốc vương.

Cái tên gọi An Nam đầy “thượng đẳng” vẫn luôn được họ gọi để coi khinh nước ta, cho đến thời Gia Long. Vua Gia Long sai sứ sang yêu cầu bỏ tên gọi “An Nam“, mà muốn được xác nhận dưới tên mới là “Nam Việt“. Phía nhà Thanh phải đồng ý, tuy nhiên lấy lí do vùng Nam Việt ngày xưa bao gồm cả vùng lưỡng Quảng rộng lớn, tránh cớ sự để gây hấn của nhà Nguyễn, bèn xuống chiếu đổi tên thành Việt Nam nhằm tránh nhầm lẫn. Trong chiếu quốc hiệu của Gia Long năm 1804 có ghi :

“Đế vương dựng nước, trước phải trọng Quốc hiệu để tỏ thống nhất. Xét từ các đấng tiên thánh vương ta xây nền dấy nghiệp, mở đất Viêm bang, gồm cả đất đai từ Việt Thường về Nam, nhân đó lấy chữ Việt mà đặt tên nước… nên định lấy ngày 17 tháng 2 năm nay, kính cáo Thái miếu, cải chính Quốc hiệu là Việt Nam, để dựng nền lớn, truyền lâu xa.

Phàm công việc nước ta việc gì quan hệ đến Quốc hiệu và thư từ báo cáo với nước ngoài, đều lấy Việt Nam làm tên nước, không được quen xưng hiệu cũ là An Nam nữa”

Như vậy, từ thời Gia Long, quốc hiệu của nước ta không chỉ đổi trong nước, mà đối với một nước lớn luôn coi khinh, thì giờ đây đã chính thức mang tên là Việt Nam. Đó là một sự thay đổi thể hiện được vị thế quốc gia và tinh thần độc lập rất cao của triều đình nhà Nguyễn.

Xêm thêm: Thời Trịnh Nguyễn phân tranh và triều Tây Sơn, Đại Việt hay Việt Nam là quốc hiệu nước ta?

Đối với vùng đất Sài Gòn – Gia Định, chính việc xây dựng nơi đây thành căn cứ để nuôi quân cho chiến tranh, Nguyễn Ánh đã biến vùng đất này trở thành một nơi buôn bán nhộn nhịp, mà cho đến bây giờ, vùng đất này vẫn là nơi làm ăn kinh tế phát triển nhất cả nước. Ông cũng là người đã cho xây Kinh thành Huế, kiến trúc cung đình nguyên vẹn nhất còn lại của dân tộc.

Có người nói Quang Trung mới là người thống nhất đất nước, còn Nguyễn Ánh chỉ là kẻ “ngồi mát ăn bát vàng“. Vua Quang Trung đã giúp tiêu diệt dòng họ Lê, Trịnh, và cũng đánh đuổi quân Thanh, tính ra đều là chiến tích lẫy lừng, mà với tham vọng và lực lượng của Gia Long, có lẽ chưa tính đến chuyện dẫn quân ra Bắc mà chỉ dừng lại ở Phú Xuân.

Tuy nhiên, cho tới trước khi Quang Trung băng hà thì đất nước không chỉ đang chia cắt, mà còn chia làm ba mảnh. Quang Trung coi như đã giành được đất Bắc Hà, ở giữa lại gặp phải ông anh Thái Đức Nguyễn Nhạc, bao lần muốn tiến quân đánh Gia Định nhưng phải vòng đường biển vì ngại tiến quân trên đất vua anh, và lực lượng thứ 3 ở Gia Định, lúc này đã trở nên vô cùng quy củ và hùng mạnh. Liệu ông có dứt được ông hoàng lưu vong ở Gia Định sau 3,4 lần thắng lợi nhưng vẫn tìm được cách quay lại, hay dứt tình bạc nghĩa với Nguyễn Nhạc được không?

Đây là câu hỏi mà tài quyền bính của Quang Trung, chưa giải được, trước những ngã rẽ tình anh em và sự ủng hộ “lì lợm” của dân xứ Đàng Trong với vương triều cũ. Ở đất Bắc, cũng phải nói đến việc lòng dân cũng còn thương nhớ vua Lê, mà có lẽ sự thần phục Quang Trung chỉ đến từ sức mạnh quân sự, vì chỉ vài năm ngắn ngủi lên ngôi của ông thì những cố gắng cải cách có lẽ chưa đủ để xóa nhòa tinh thần của chế độ cũ.

Bằng chứng mạnh mẽ nhất có lẽ là việc sau này người dân bắt Cảnh Thịnh giao nộp cho Gia Long. Nhà Tây Sơn đã chấm dứt một lực lượng hùng mạnh, để rồi lại biến chính mình trở thành một lực lượng khác, lại chưa dứt được những lực lượng đối địch. Một nước ba vua chưa thể gọi là thống nhất được. Với năng lực của Quang Trung, có lẽ nếu ông không mất sớm thì thế cục có thể đã xoay chiều. Nhưng lịch sử thì không có chữ “nếu“.

Nguyễn Ánh trả thù nhà Tây Sơn, “cõng rắn cắn gà nhà”…

Nguyễn Ánh bị gán cho những tội mà nhiều người cho rằng công lao của ông không thể xóa đi vết nhơ được, thường được biết đến gồm: trả thù tàn ác nhà Tây Sơn, “cõng rắn cắn gà nhà” và là nguyên nhân khiến thực dân Pháp xâm lược Việt Nam sau này. Để nhận định tội của ông, trước tiên hãy cùng xét lại thời kì này.

Như người viết đã nói, là phải dùng tiêu chuẩn cùng thời mà đánh giá con người và sự kiện lich sử. Thời bấy giờ nước ta đặt Nho giáo làm nền tảng xã hội. Nho giáo quan niệm vua (Nhân quân) là người thay mặt cho Trời mà cai trị dân chúng và mưu cầu hạnh phúc cho dân chúng, nên gọi vua là Thiên tử (con của Trời). Với Nho giáo, “đâu cũng là đất của vua, ai cũng là dân của vua”. Nước chỉ là vật sở hữu của một số ít người có “đức sáng” và được “mệnh trời”.

Mối quan hệ giữa người dân và vua là con dân – triều đình, con dân mà làm loạn, tiếm quyền vua, áp đặt lề luật mới thì là ngụy triều. Với Gia Long, là ông hoàng cuối cùng của gia tộc các chúa Nguyễn, vốn đã được người dân Đàng Trong yêu mến và che chở dẫu cả khi phải trốn chui lủi, nghĩa vụ của ông đương nhiên là phải giành lại quyền vương của tổ tiên và không phụ lòng dân.

Tội trạng thứ nhất mà Nguyễn Ánh mang tiếng nặng nề nhất, đó là việc cõng” 5 vạn quân Xiêm sang “cắn gà nhà và bị quân Tây Sơn, dẫn đầu là Quang Trung Nguyễn Huệ đánh bại ê chề ở trận Rạch Gầm – Xoài Mút, mà dấu ấn lãnh đạo và mưu lược của Quang Trung đã đi vào lịch sử thành một trong hai chiến công lớn nhất của nhà Tây Sơn.

Quân Tây Sơn giành vương quyền xứ Đàng Trong, tận diệt nhà Nguyễn, cướp bóc, tàn sát người dân ở những trung tâm thương mại lớn của Đàng Trong, thì đối với cả Nguyễn Ánh và người dân xứ này, không thể đơn giản gọi Tây Sơn là “gà nhà“, dẫu cho sự ủng hộ phong trào này cũng không kém sôi nổi .

Mối quan hệ của Xiêm – Việt lúc bấy giờ, dẫu có là đồng minh với họ Nguyễn, thì không thể chối cãi cũng là mối nguy từ bên ngoài, vì vậy ông hoàng nào muốn mượn quân cũng phải suy tính để tránh tai họa. Tuy nhiên việc mượn quân bên ngoài để chống lại lực lượng đối địch khác là chuyện không hiếm.

Điều đáng xét là quyền lợi dân tộc sau đó có bị ảnh hưởng hay không. Nếu Nguyễn Ánh để quân Xiêm xâm lược Việt Nam thì tội của ông là không chối cãi, chỉ có là điều này không hề xảy ra, ngoại trừ phần đất Trấn Ninh đã cắt cho Vạn Tượng, sau này thời của con là vua Minh Mạng đã giành lại.

Việc cắt Trấn Ninh là một hành động mang tính chiến lược, khi bỏ đi một vùng đất khó giữ và để ngầm khẳng định với Xiêm La rằng tại thời điểm đó, Nguyễn Ánh không hề muốn gây hấn. Như người viết đã nói ở đầu bài, nghĩa vụ của vị chúa lưu vong này với thần dân là phải trở thành thiên tử, giành lại vương quyền, là cái ước nguyện hợp lí trong xã hội Nho giáo đương thời, nếu nghĩa vụ và trách nhiệm nằm trên đầu mà thất bại thì là đáng tội với tổ tiên, với thần dân.

Vì vậy việc hi sinh đất Trấn Ninh là chuyện phải làm, và sự đánh đổi này nếu so với thành công nối liền dải đất chữ S, đối với hậu thế có thể coi là một chấm lệch trên đường công danh của vị vua này, nhưng với tư duy xã hội lúc bấy giờ là một chuyện bình thường.

Như đã nói, dưới thời nhà Nguyễn, diện tích Việt Nam là rộng lớn nhất lịch sử, và trong thời Gia Long không có ai động vào được nước ta. Sau thời lụi tàn của chủ nghĩa quân chủ, có lẽ nhiều người mang tư tưởng dân chủ (nhân dân làm chủ đất nước) để phán xét về hành động cắt đất của các vị vua trong thời phong kiến trước kia, có lẽ họ đã quên mất tư tưởng Nho giáo, nền tảng xã hội lúc bấy giờ rằng “đâu cũng là đất của vua, ai cũng là dân của vua”.

Một sự kiện đáng trách của Gia Long là sau khi người dẫn đầu đại quân của Xiêm là Châu Văn Tiếp, tùy tướng của Nguyễn Ánh chết trận, khiến lính Xiêm làm loạn mà cướp bóc, bắt giết dân lành, làm lòng dân oán hận. Đây là sai lầm không thể chối cãi, và Nguyễn Ánh ngay lập tức nhận ra điều này. Sau này khi vua Xiêm La đề nghị đưa quân giúp lần thứ 2 thì ông từ chối, bỏ trốn về Gia Định tự mình xây dựng binh lính.

Tội trạng thứ hai là khi người ta cho rằng việc người Pháp đô hộ Việt Nam là do mối quan hệ giữa vua Gia Long và người Pháp. Tuy nhiên, vua Gia Long không thực hiện bất kì điều nào trong hiệp ước Versailles với người Pháp cả. Mối quan hệ duy nhất ông có với người Pháp là với giám mục Pigneau de Behaine (Bá Đa Lộc), quân sư thân cận nhất của Gia Long và là người đem về Gia Định một đám lính đánh thuê cùng 6 tàu chiến cũ kỹ đem từ Ấn Độ về, hoàn toàn không có một mối quan hệ nào với triều đình Louis XVI.

Giám mục Bá Đa Lộc
Giám mục Bá Đa Lộc. (Ảnh wikipedia)

Người Pháp giai đoạn sau này đi xâm lược với mục đích “khai phá thế giới” và tranh giành sự ảnh hưởng là một biến chuyển mang tính thời đại, mà những quốc gia nhỏ bé nếu không kịp biến chuyển một cách tinh tế và hợp thời thì rồi cũng trở thành con rối trong tay đại quốc. Pháp đô hộ năm 1858, tức là 38 năm sau ngày vua Gia Long mất. Sau khi lên ngôi, ông tưởng thưởng cực hậu cho những người phương Tây ngày xưa từng tham chiến, tuy nhiên khi triều đình Louis XVII cử người sang yêu cầu thực thi hiệp ước, Nguyễn Ánh đã từ chối và mời về, vì lí do không thực hiện bất cứ điều kiện nào.

Những quan chức người Pháp trong bộ máy cũng dần bị loại bỏ. Theo nhà sử học Lê Thành Khôi“Ở thế kỷ 19, Nhật Bản và Xiêm dùng rất nhiều chuyên viên ngoại quốc trong mọi lĩnh vực, không ai cho rằng họ đã “cõng rắn cắn gà nhà”. Ðiểm mà Pháp lúc xâm chiếm cũng không lấy cớ là đã giúp Gia Long mà viện lẽ bảo vệ Cơ đốc giáo.” Giai đoạn này, có hàng chục quốc gia bị đô hộ vì sự bành trướng và chênh lệch sức mạnh quân sự của phương Tây.

Nhà sử học, GS Lê Thành Khôi
Nhà sử học, GS Lê Thành Khôi. (Ảnh vietnamnet)

Sự xâm lược của Pháp, nói riêng ở Việt Nam là do sự yếu kém của hậu thế, với những chính sách thiếu mềm mỏng với bên ngoài và tầm nhìn không vượt được thời đại, nhen nhóm từ thời Minh Mạng và cao trào dưới thời Tự Đức, dẫn đến nỗi người Pháp lấy được cớ mà dùng vũ lực.

Xem thêm: Vì sao nhà Nguyễn lại để mất nước?

Ở phần cuối, người viết sẽ nói rõ sự khác biệt trong cách đón nhận nền văn minh phương Tây của Gia Long với các đời sau, để thấy nếu tinh thần của ông nếu được duy trì trong thời con cháu, có lẽ sự va chạm với văn minh phương Tây sẽ không tạo nên cơn địa chấn như vậy đối với người Việt, mà có thể xem Nhật Bản như một gương thành công rực rỡ nhất.

Tội thứ ba của Nguyễn Ánh bị người đời chỉ trích là sự trả thù tàn khốc đối với nhà Tây Sơn. Thoạt đầu người viết cũng không đồng tình với cách trả thù như vậy và cho rằng kém nhân đạo nếu so với gương tiền nhân, ví như ngày xưa Lê Lợi sau khi lên ngôi cũng rất nhân từ với bại quân nhà Minh và lũ phản loạn, dù mấy chục năm chịu nhục đô hộ tàn bạo.

Tuy nhiên hành động của Gia Long có thể thông cảm được. Thứ nhất, riêng với nhà Tây Sơn, là những kẻ đối với Gia Long đã tàn sát họ hàng thân thích 5 người gồm chú, bác và 3 người anh em, là mối thù máu, việc trả thù là chuyện dễ hiểu. Tuy nhiên, đó có lẽ không phải là cái lí do lớn nhất. “Trẫm nghe, vì chín đời mà trả thù là nghĩa lớn kinh Xuân Thu…” (Thực lục I, tr.532).

Chưa cần nói đến mối hận buộc ông 27 năm bôn ba trốn chạy với hi vọng thu phục lại vương quốc, việc Quang Trung quật mộ 9 đời chúa Nguyễn, và cha ruột của Gia Long đổ xuống sông là Nguyễn Phúc Côn mới là món nợ nặng nề. Món nợ tâm linh này, đối với người xưa nặng nề hơn nhiều so với nợ máu.

Trong văn hóa Việt Nam, phận con cháu luôn phải giữ gìn mồ mả cha ông đề thờ cúng. Ngay cả thời nay, trong giai đoạn chiến tranh thế kỉ 20 ở Việt Nam, có rất nhiều chương trình tìm kiếm lăng mộ chiến sĩ, dẫu bom đạn làm thịt nát xương tan, nhiều gia đình vẫn muốn tìm nơi cho người đã khuất được an nghỉ.

Người Kito giáo có Jesus, người Hồi giáo có Muhamad thì người Việt cũng có lòng thờ phụng tổ tiên là phương thức sinh hoạt tâm linh lâu đời. Động chạm đến niềm tin, ý nghĩa cuộc đời của con người thì đó là chuốc lại mối thù lớn nhất, như khi người Hồi Giáo đánh chiếm đất Thánh của Giáo Hội Công giáo để rồi phải chịu những cuộc Thánh Chiến đẫm máu, thì việc Nguyễn Ánh trả thù nhà Tây Sơn chẳng đáng là gì nếu so với những điều mà ông phải chịu để lôi ra mà phê bình, thóa mạ cái công của ông vậy, nhất là khi sự trả thù chỉ đè trên đầu dòng họ Tây Sơn, là cái giá phải trả với phe chiến bại trong cuộc chơi vương quyền mà người Tây Sơn đã khởi sự trước, đúng người đúng tội.

Đối với một dòng tộc thù địch khác là họ Trịnh, Đại Nam thực lục có chép: “Vậy là Trịnh Tư được giao lo việc thờ cúng, họ Trịnh được cấp 500 mẫu ruộng để lấy huê lợi cúng tế hàng năm, 247 người họ Trịnh được xét tha thuế dinh và miễn binh dao (đi lính và chịu sưu dịch)”. Đối với kẻ thù 45 năm, Gia Long bỏ qua và còn cho cơ hội mà làm ăn, thì thấy được rằng ông không phải kẻ hiểu sát, mà chỉ là món nợ phải trả, là cái nghĩa với tổ tông, mà dẫu biết có tận diệt cả dòng họ Tây Sơn hay gấp rút xây dựng lăng tẩm với những cái “mả gió” cũng chẳng thể nào mà bù đắp được.

Con người Gia Long

Bỏ qua những tranh cãi đau đầu về những cuộc tranh giành quyền lực, vua Gia Long là một con người với những tính cách và hành động thú vị, đáng được lấy ra để hậu thế nhìn nhận và học hỏi, cũng là mục đích mà nghiên cứu sử học hướng đến.

Gia Long là một vị vua nhẫn nhịn, bền bỉ. Gánh nặng vương triều và mối thù gia tộc đã đè lên vai của một thanh niên mới 17 tuổi, bị mất tất cả, sống nghèo khổ, tủi nhục, dòng tộc đều chết cả. Khởi đầu từ con số 0 và chịu không ít thất bại nặng nề nhưng ông không nản chí, quyết bằng mọi giá phục hưng gia tộc. Về con người, có lẽ người viết không muốn bàn luận nhiều, để bạn đọc xem thử góc nhìn của những người phương Tây, đối với ông như thế nào.

Trong thư của giám mục Pierre-Marie Le Labousse, ông miêu tả Gia Long :

“Ông cương quyết nhưng không hung tàn, ông hay nghiêm trị nhưng theo lệ luật. Ông có đủ đức của tâm hồn cũng như trí tuệ. Lớn lên trong tai ương, ông chịu đựng được nghịch cảnh một cách can đảm… Lúc trẻ ông ưa rượu, nhưng từ khi phải cầm đầu công việc ông bỏ đi đến bây giờ không nếm lấy một giọt…

Ông cực kỳ siêng năng. Ban đêm ông ngủ ít, đọc nhiều. Ông có tính hiếu kỳ và thích học hỏi. Trong cung của ông có nhiều sách về kiến trúc, thành đài. Ông thường giở từng trang để xem những đồ thị và cố gắng bắt chước, khỏi cần đọc những giải thích bằng chữ Pháp vì ông không đọc được. Mỗi ngày, ông có một bước tiến mới. Ông là vị vua lớn nhất tới nay chưa bao giờ có ở nước Nam”

Hay John Barrow miêu tả:

“Nghị lực trí thức của ông ngang bằng với khí phách và hoạt động thể xác. Chính ông chủ động sự bùng lên mọi mặt của đất nước, chính ông quản đốc các hải cảng và các công binh xưởng, chính ông là giám đốc xây dựng những xưởng đóng tầu, chính ông chỉ huy các kỹ sư trong tất cả mọi công việc, không có gì thực hiện không có gì chấp hành mà không hỏi ý kiến và nhận lệnh của ông. Không ai chế tạo một bộ phận nào mà không hỏi ông; không ai lắp một khẩu đại bác nào mà không có lệnh của ông. Không những ông trông coi từng chi tiết nhỏ, mà còn phải làm trước mặt ông.

Để điều khiển tất cả công việc của mình một cách vững vàng, ông đặt ra một thời biểu sống cố định và kỷ luật. Sáng dậy 6 giờ, tắm nước lạnh; 7 giờ, các quan vào chầu, mở tất cả công văn đến từ hôm qua, ông truyền lệnh cho các thư ký ghi chép, sau đó ông ra xưởng tầu thủy, duyệt lại tất cả những gì đã làm xong lúc ông vắng mặt, rồi ông tự chèo thuyền đi khắp bến cảng, kiểm soát các chiến hạm, đặc biệt chú ý đến súng đại bác; ông đi thăm lò đúc súng, đúc đủ loại đại bác ngay tại công binh xưởng.

Đến 12 hay một giờ trưa, ông ăn cơm ở xưởng đóng tầu. Cơm với cá muối. Hai giờ ông về cung ngủ tới 5 giờ; sau đó ông tiếp các quan võ thuỷ bộ, các quan toà, hay quan cai trị, ông đồng ý, hoặc bãi bỏ hoặc sửa chữa những kiến nghị của mọi người. Thường thì công việc triều chính kéo dài đến nửa đêm, ông mới trở về phòng làm việc, ghi nốt và chú thích thêm cho những việc ngày hôm nay; rồi ông ăn một bữa cơm nhẹ, gặp gia đình độ một giờ, đến 2, 3 giờ sáng ông mới đi ngủ. Ông chỉ ngủ 6 giờ một ngày.

Ông không uống rượu, ăn ít thịt, cá, cơm, rau, hoa quả, chút bánh trái và uống trà, đó là tất cả đồ ăn của ông. Như một vị dòng dõi vua Minh bên Tầu, mà ông công nhận, ông ăn cơm một mình, không cho phép vợ con ngồi cùng mâm. Vẫn nguyên tắc kiêu kỳ này, ông không tiếp những người Anh đến chào năm 1799, lấy cớ lúc này tình hình lộn xộn không cho phép sửa soạn tiếp đón theo đúng nghi lễ.

Ta sẽ lầm nếu phê bình sự từ chối này như [thái độ của] một ông vua nước Tầu; nhưng với ông, chẳng vì hiềm tị mà ông không làm thoả mãn lòng hiếu kỳ của người ngoại quốc. Trái lại, họ có thể tự do đến thăm xưởng đóng tầu, thăm những tháp canh, những thành đồn. Ông tiếp họ dễ dàng trong tư thế tướng quân. Nhưng với tư thế đế vương, ông không tiếp.”

Một ngày của vua Gia Long qua miêu tả của John Barrow
Một ngày của vua Gia Long qua miêu tả của John Barrow. Tranh: Dương Vũ / Linhs
Tác giả John Barrow (1764 - 1848)
Tác giả John Barrow (1764 – 1848)

Xem thêm: Những thói hư, tật xấu của người Việt Nam thế kỷ 18 qua ghi chép của John Barrow

Gia Long có tài dụng tướng, vì vậy tướng lĩnh theo ông rất nhiều và trung thành hết mực, trong đó có cả hàng ngũ Tây Sơn. Nguyễn Văn Trương, trước là tướng Tây Sơn, đem quân truy bắt Nguyễn Ánh, gần đuổi kịp thì cây lớn đổ xuống chặn ngang đường, bèn cho rằng ông là chân mệnh thiên tử, bèn bỏ mà theo, sau trở thành một trong Ngũ Hổ Tướng Gia Định.

Nguyễn Huỳnh Đức bị Tây Sơn bắt sống, được Quang Trung nể nang nhưng không chịu theo mà bảo rằng “tôi trung không thờ hai chủ“. Đến đêm giả vờ nói mớ để chửi bới cả họ Tây Sơn, cuối cùng cũng lẻn về Xiêm. Sau vua Xiêm ngỏ ý giữ lại, bèn tức giận đòi chết, mới thả cho đi gặp lại quân Gia Long.

Võ Tánh cố thủ thành Bình Định, xin vua đừng cứu mình mà tiếp tục tiến quân ra Phú Xuân, rồi phải tuẫn tiết mà chết để xin tha cho quân lính, đến nỗi tướng Tây Sơn là Trần Quang Diệu phải cảm phục mà cho chôn thi hài tử tế. Tả quân Lê Văn Duyệt đốc quân liều chết lao thẳng vào trận địa pháo của Tây Sơn, mở ra bước ngoặt cho đại chiến Thị Nại, rồi Nguyễn Văn Thành, Châu Văn Tiếp,… Muốn đánh giá một vị vua ra sao nhìn cách bề tôi tận trung là có thể hiểu được.

Ông là người có tầm nhìn thời đại, biết học hỏi, tiếp thu văn minh phương Tây. Sự mềm mỏng trong giao thương với nước ngoài cũng biến Gia Định thành vùng đất trù phú, làm nền móng vững chắc để xây dựng quân đội, cộng việc nghiên cứu chiến thuyền hay súng ống đại bác của phương Tây đã góp công không nhỏ để chấm dứt cuộc nội chiến. Tinh thần và phương thức khẳng định chủ quyền ở cả trong tên gọi, cho đến những vùng đảo Hoàng Sa Trường Sa đã thể hiện tầm nhìn xa của Gia Long.

Hình ảnh chiến thuyền thời Nguyễn khắc trên Cửu đỉnh
Hình ảnh chiến thuyền thời Nguyễn khắc trên Cửu đỉnh. (Ảnh tư liệu)

Sự tiếp thu phương Tây của Gia Long không bị cuốn theo dòng chảy quá mức để bị cuốn trôi truyền thống dân tộc, đó cũng là cách làm của người Nhật trong cuộc duy tân để trở nên văn minh. Học hỏi và trở nên mạnh mẽ như phương Tây, giữ gìn văn hóa dân tộc để trỗi lên trở nên một cường quốc và vượt qua chính họ.

Người phương Tây giai đoạn này đến với nước ta với mục đích mua bán và truyền đạo Kito. Giáo hội Công giáo lúc này đã phạm một sai lầm nghiêm trọng, đó là cho rằng tục thờ cúng cha mẹ, tổ tiên của người phương Đông là tà đạo, cần phải loại trừ. Tuy nhiên họ không hiểu được rằng, khác với những tục mê tín dị đoan, coi bói, thờ phụng thần thánh, người phương Đông coi việc thờ cúng tổ tiên là một hình thức khác.

Gia Long khi tranh luận với Bá Đa Lộc đã rất thấu hiểu tục lệ của đất nước, với con mắt rất hiện đại mà nói rằng:

“Khi tôi đi đến các chỗ lễ đó, tôi nghĩ rằng nếu tổ tiên tôi còn sống, tôi muốn đền đáp công ơn trong muôn một. Để chứng tỏ ý nghĩ tôi chân thành và có hiệu quả, tôi muốn ngay bây giờ làm những điều như ông bà tôi còn sống. Tôi biết rằng họ không còn nữa và những điều tôi sắp làm không có lợi ích gì cho họ cũng như cho tôi. Nhưng tôi muốn chứng tỏ cho mọi người biết rằng tôi không quên họ.”

Có lẽ đây cũng là tâm niệm của con người nước ta, kể cả trong thời nay, đối với việc thờ cúng ông bà, tổ tiên.

Suốt thời Gia Long, ông không hề cấm đạo hay ngăn cản phương Tây vào buôn bán, nhưng cũng dần hạn chế quyền lực của quan chức người Pháp trong bộ máy. Sau này khi lên ngôi, ông cũng chọn hoàng tử Đảm, là con thứ 4 thay và cháu đích tôn của cựu hoàng tử Nguyễn Phúc Cảnh là hoàng tôn Đán.

Đảm là con lớn, khi lên ngôi đã 30 tuổi, đã chinh chiến và có kinh nghiệm trị vì, lại là người cương quyết và cảnh giác với các nước phương Tây. Hoàng tôn Đán thì được triều thần ủng hộ, lại có tinh thần cởi mở, tuy nhiên còn quá nhỏ, lại có người mẹ theo đạo Thiên Chúa và hoàng tử Cảnh từng sinh sống ở Pháp, dễ bị người Pháp lợi dụng. Việc chọn con thứ thay vì đích tôn táo bạo này cho thấy tinh thần cảnh giác của ông đối với phương Tây là như thế nào.

Chỉ tiếc là sự cứng rắn quá mức của Minh Mạng đã tạo tiền đề cho con cháu là Tự Đức gây nên một cái cớ cho người Pháp xâm lược. Minh Mạng là vị vua có tài và đã mở mang lãnh thổ Việt Nam lớn nhất trong lịch sử, tuy nhiên giữa gọng kìm thời đại, tinh thần đóng cửa của ông đã ngăn bước chuyển mình của nước ta, mà nếu giữ vững được tinh thần của vua cha thì có lẽ mọi chuyện đã trở nên tốt đẹp hơn cho dân tộc.

Một câu chuyện nhỏ cho thấy Gia Long cũng là một người sống tình nghĩa. Năm xưa khi lưu lạc, đành phải xa vợ là bà Tống Thị Lan, ông gửi lại cho bà một nửa thỏi vàng để làm tín vật. Sau khi lên ngôi hoàng đế, ông hỏi bà về nửa thoi vàng năm xưa, bà đưa ra và Gia Long mừng rỡ nói: “Vàng này còn giữ được, đó thật là ân trời đã giúp trong lúc nguy nan, chẳng nên quên lãng. Vậy phải để dành về sau cho con cháu biết”.

Sau này khi mất, vua Gia Long đã thực hiện một nghi thức chưa từng có để đáp nghĩa vợ chồng đã bên nhau từ những ngày tháng gian khó. Đó là cho bà – lúc này là Thừa Thiên Cao Hoàng Hậu được yên giấc ngàn thu bên cạnh mộ của mình trong khuôn viên lăng Gia Long – một lăng tẩm giản dị, như là tính cách của ông hoàng này.

Mộ vua Gia Long và Thừa Thiên Cao hoàng hậu tại Thiên Thọ Lăng thuộc huyện Hương Trà, Thừa Thiên Huế.

Vua Gia Long là một vị vua có tầm nhìn, với những chính sách ngoại giao khôn khéo và mềm dẻo, lại có ý thức lớn về chủ quyền và độc lập dân tộc, cái công thống nhất của ông lớn là vậy. Xu hướng phê phán và phủ nhận công lao của ông, cũng chỉ xảy ra gần đây thôi.

Xem thêm: Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh nói về nhà Nguyễn

Linh Nguyễn