Lịch sử Việt Nam

Cả một trung đoàn quân VNCH ra đầu hàng trong mùa hè đỏ lửa 1972

Ngày 2/4/1972 tại căn cứ Tân Lâm - Quảng Trị, Trung tá Phạm Văn Đính cùng trung đoàn 56 bộ binh VNCH rời khỏi công sự đầu hàng QGPMN. Đây là một cơn chấn động tinh thần lớn đối với Bộ tư lệnh Sư đoàn 3 bộ binh VNCH nói riêng và toàn bộ QLVNCH nói chung.
9

Trước sự tấn công như vũ bão của Trung đoàn Pháo binh 38 (Đoàn Bông Lau) – Quân giải phóng. Trung tá Phạm Văn Đính – Trung đoàn trưởng Trung đoàn 56 của Sư đoàn 3 Bộ binh Quân lực VNCH đã lên hệ thống truyền tin để xin được gặp người chỉ huy cao nhất của Đoàn Bông Lau, xin ngừng bắn để treo cờ trắng dẫn toàn bộ binh sĩ của Trung đoàn ra đầu hàng.

Sự kiện này đã được cựu chiến binh Hồ Văn Duyệt kể lại như sau:

Hồi đó tôi là giáo viên trường Sĩ quan Pháo binh được phái đi phục vụ cuộc tiến công chiến lược năm 1972. Tôi được đi cùng trung đoàn pháo binh 38, chi viện cho sư đoàn 304, tấn công căn cứ Carroll do trung đoàn 56, sư đoàn 3 đóng giữ.

Ngày 2/4/1972, đồng chí Trung đoàn phó Pháo binh chỉ huy đài quan sát phải lên Sở Chỉ huy Sư đoàn họp, ủy nhiệm cho tôi thay thế tiếp tục thực hiện kế hoạch hỏa lực. Khoảng đầu giờ chiều hôm ấy, một chiến sĩ trực vô tuyến điện báo cáo với tôi:

“Có một tên yêu cầu gặp thủ trưởng!”, tôi bảo: “Nó phá rối đấy chứ gặp gì, mặc kệ nó”. Một lát sau, chiến sĩ lại báo cáo “Tên đó xưng là Trung tá Chỉ huy trưởng xin gặp Sao Hôm”. Sao Hôm là mật danh của đài quan sát chỉ huy.

Theo cách xưng hô, tôi đoán là một viên sĩ quan nên cầm máy. “A lô! Tôi là Sao Hôm đây, các anh cần gặp có việc gì?”, phía bên kia trả lời: “Tôi, Trung tá Phạm Văn Đính – Trung đoàn trưởng Trung đoàn 56 xin được gặp cấp chỉ huy cao nhất. Xin ông cho biết danh tánh và cấp bậc”.

Nghe câu nói đó, tôi nghĩ anh này chắc được huấn luyện rất chính quy ở bên Mỹ. Riêng tôi, chưa từng dự kiến đối thoại với địch nên lúng túng không biết xưng hô thế nào. Tôi trả lời Trung tá Đính: “Chúng tôi không có thói quen xưng hô tên tuổi cấp bậc với đối phương trong lúc tác chiến, anh gọi tôi là Sao Hôm là được rồi.

Tôi không phải là cấp chỉ huy cao nhất nhưng có thể trả lời những gì anh cần hỏi, nếu quá quyền hạn tôi sẽ chuyển đạt lên cấp trên”. Ông Đính nói: “Tôi đề nghị các ông dừng hỏa lực trong một giờ, chúng tôi muốn thương lượng”.

Tôi dùng điện thoại báo cáo lên cấp trên, Sư đoàn điện xuống chỉ đạo: “Anh có thể gọi họ là ông, anh bảo họ đầu hàng đi chứ còn thương lượng cái gì”. Tôi lên vô tuyến điện trả lời viên Trung tá Chỉ huy trưởng:

“Tôi nghĩ đề nghị của ông không thích hợp, các ông đã mất Đầu Mầu, Ba Hồ, Động Toàn rồi. Lữ đoàn thiết giáp lên giải vây cho các ông đã bị đánh tan tác, chạy lui rồi. Đông Hà cũng sắp mất. Chắc ông cũng đã nghe tiếng súng máy gần kề rồi. Các ông hạ vũ khí ngừng chiến đấu là tốt nhất. Các ông nên đầu hàng đi”.

Viên trung tá trả lời: “Có đầu hàng cũng phải thảo luận các điều kiện chứ”. Tôi nói: “Không cần thảo luận đâu! Ông có biết chính sách 10 điểm của mặt trận giải phóng miền Nam không?”.

Đính trả lời: “Tôi có biết”. Tôi bảo: “Chúng tôi chấp hành đầy đủ chính sách của 10 điểm đó”. Đính bảo rằng: “Nhưng tôi cũng cần triệu tập các sĩ quan dưới quyền, họ chỉ huy từng bộ phận rải rác khắp nơi và cần thời gian để họp”.

Chỉ huy Sư đoàn vẫn tập trung để theo dõi cuộc trao đổi của tôi với viên Trung tá chỉ huy trưởng, đồng thời gọi điện thoại xuống để hướng dẫn cho tôi một số thủ tục. Tôi nói với Trung tá Đính:

“Vậy thì tôi đồng ý ngừng hỏa lực trong vòng 1 giờ theo yêu cầu của ông. Còn yêu cầu của chúng tôi là ông cho kéo cờ trắng lên cột cờ trung tâm của căn cứ trước khi ngừng hỏa lực. Sau khi ngừng hỏa lực được 30 phút, một nửa số quân của ông phải ra khỏi công sự, lên mặt đất, không mang theo vũ khí”.

Ngay sau đó, Ðính tập hợp 13 sĩ quan chỉ huy của trung đoàn trong hầm chỉ huy để quyết định. Ðính mở lời trước, cho biết tình thế rất tuyệt vọng. Căn cứ không thể cầm cự trước sự tấn công liên tục của quân giải phóng. Sau đó Ðính nói ra ý nghĩ thật của mình:

“Nếu tiếp tục chiến đấu, nhiều người sẽ chết. Và nếu chúng ta có bị thương, có chết, để có được một chiến thắng, thì cũng không ai lo cho chúng ta sau đó. Chúng ta bây giờ phải tự lo lấy thân.” Tiếp theo, Ðính nói về đề nghị của chỉ huy quân giải phóng.

Sau đó ông hỏi tất cả muốn tử thủ, đánh mở đường máu, hay đầu hàng? Nếu tất cả các sĩ quan có mặt đồng ý tiếp tục đánh thì ông sẽ nghe theo ý họ. Trong số sĩ quan hiện diện, chỉ có Thiếu tá Tôn Thất Mãn – Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 1 của Trung đoàn 56 lên tiếng đòi đánh đến cùng. Số sĩ quan còn lại yên lặng không ý kiến.

Trước sự yên lặng của các sĩ quan, Ðính nói về gia đình của họ, về viễn cảnh những vui mừng khi họ được sống sót trở về. Tất cả đều đồng ý đầu hàng, chỉ có Thiếu tá Mãn không bỏ phiếu.

Với quyết định đã được đồng thuận, Ðính đi qua lô cốt của hai sĩ quan cố vấn Mỹ để thông báo. Nhưng Thiếu tá Joseph Brown và Trung tá William Camper không đồng ý. Camper đề nghị trung đoàn dùng những chiếc thiết giáp có trong căn cứ đánh bung ra vòng đai mở đường máu. Ðính không chịu, nói vô ích.

Lúc này, có một máy bay trực thăng C-47 trên đường tiếp tế đạn cho căn cứ Mai Lộc bay ngang qua đó, ghé lại bốc 2 viên sĩ quan Mỹ cùng với khoảng 30 binh sĩ không chịu đầu hàng muốn đi theo 2 sĩ quan cố vấn. Khi chiếc trực thăng cất cánh thì cờ trắng đầu hàng đã bay trên căn cứ Carroll.

Căn cứ Carroll trước năm 1968
Căn cứ Carroll trước năm 1968

Việc quyết định đầu hàng của Trung tá Đính đã cứu mạng được hơn 1.500 thuộc cấp của mình và hàng ngàn binh sĩ cả hai bên.

Như vậy, Trung đoàn 56 Quân đội Sài Gòn là tù binh. Nhưng Bộ chỉ huy chiến dịch chỉ thị cho họ được “nâng cấp” trở thành đơn vị phản chiến, được đối xử như những người lính phản chiến tự nguyện rời bỏ chính quyền Sài Gòn trở về với chính nghĩa. Những quân nhân này được bố trí phục vụ công tác và lao động ở các đơn vị hậu cần của quân đội nhân dân VN.

Sĩ quan Pháo binh QĐNDVN Hồ Văn Duyệt, bí danh Sao Hôm trong trận đánh căn cứ Carroll, người đội mũ mềm, đeo súng ngắn, đứng bên trái hàng đầu đang bắt tay trung tá Phạm văn Đính cùng khoảng 600 binh sĩ dưới quyền ông Phạm Văn Đính đầu hàng phía Quân đội nhân dân Việt Nam.
Sĩ quan Pháo binh QĐNDVN Hồ Văn Duyệt, bí danh Sao Hôm trong trận đánh căn cứ Carroll, người đội mũ mềm, đeo súng ngắn, đứng bên trái hàng đầu đang bắt tay trung tá Phạm văn Đính cùng khoảng 600 binh sĩ dưới quyền ông Phạm Văn Đính đầu hàng phía Quân đội nhân dân Việt Nam.

Trung tá Phạm Văn Đính được ra Hà Nội, nhận một số công việc liên quan đến công tác binh vận và công tác địch tình. Trung tá Ðính có lương và nhà ở, và làm việc như một sĩ quan văn phòng ở Hà Nội. Sau này, sau khi VNCH thất thủ, Ðính đã phục vụ trong công tác tuyên truyền cho Việt Nam. Một trong những công tác là làm giảng viên trường Pháo binh; giảng viên ở những trại cải tạo quân đội VNCH và trở về Huế với gia đình. Ông nghỉ hưu với quân hàm Đại tá.

Xem thêm: Quảng Trị “mùa hè đỏ lửa” năm 1972 – Mỗi tấc đất là một cuộc đời

Nhân vật lịch sử

Trung tá Phạm Văn Đính công hay tội?

Ngày 2/4/1972 tại căn cứ Tân Lâm - Quảng Trị, Trung tá Phạm Văn Đính cùng trung đoàn 56 bộ binh VNCH rời khỏi công sự đầu hàng QGPMN. Đây là một cơn chấn động tinh thần lớn đối với Bộ tư lệnh Sư đoàn 3 bộ binh VNCH nói riêng và toàn bộ QLVNCH nói chung.
18

Trung tá Phạm Văn Đính

Trung tá Đính xuất thân Khóa 9 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức. Ông bắt đầu nổi tiếng khi còn là trung úy chỉ huy liên đại đội trinh sát Hắc Báo. Trung tá Đính thăng cấp rất nhanh, từ thiếu úy lên trung tá chỉ trong vòng 5 năm. Các cấp bậc đều được thăng tại mặt trận.

Rời Hắc Báo, Đại úy Phạm Văn Đính được cử làm Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 2 thuộc Trung đoàn 3, Sư đoàn 1. 

Trong biến cố Mậu Thân tại Huế, Tiểu đoàn 2 do Thiếu tá Đính chỉ huy đã tiến chiếm và dựng quốc kỳ VNCH tại kỳ đài. 

Ngày 1 tháng 1/1969, Thiếu tá Đính là một trong ba tiểu đoàn trưởng đầu tiên của Sư đoàn 1 được thăng cấp Trung tá.

Giữa năm 1970, Trung tá Phạm Văn Đính được bổ nhiệm làm Trung đoàn phó Trung đoàn 54, và đến tháng 10/1971 được đề cử làm Chỉ huy trưởng Trung đoàn 56 tân lập khi mới 28 tuổi.

Sự tan rã của Trung Đoàn 56, Sư đoàn 3 Bộ binh QLVNCH tại căn cứ Tân Lâm

Giải thích về việc Trung Đoàn 56 đầu hàng QGP tại căn cứ Tân Lâm, nhiều sĩ quan cao cấp Việt Mỹ cho rằng: 

Trung đoàn 56 là trung đoàn mới thành lập với hơn 70 phần trăm binh sĩ của trung đoàn là tân binh hoặc thành phần quân nhân đảo ngũ bị bắt trở lại. Căn cứ khi đó lại bị 4 bề bao vây là quân địch. Lữ đoàn thiết giáp lên giải vây đã bị đánh tan nát, Trung tá đính 3 lần gọi điện yêu cầu giải vây hoặc triệt thoái nhưng đều bị từ chối.

Theo tài liệu của cựu Đại tá Turkley (Cố vấn Sư đoàn TQLC) có mặt tại Quảng Trị khi trận chiến xảy ra, trước giờ căn cứ thất thủ, Trung tá Phạm Văn Đính đã họp với các sĩ quan thuộc quyền, sau đó đã mời cố vấn trưởng vào thông báo nội dung buổi họp và yêu cầu cố vấn trưởng cùng tự sát với mình để khỏi nhục nhưng vị cố vấn này không đồng ý và được di tản.

Nhận định về trường hợp của Trung tá Phạm Văn Đính, cựu Trung tướng Ngô Quang Trưởng đã viết trong hồi ký như sau:

Sư đoàn đã không yểm trợ cho Trung tá Đính đầy đủ và Quân Đoàn đã quên ông. Trung tá Đính muốn được triệt thoái khỏi căn cứ bao vây nhưng tướng Giai không chấp thuận. Nhận thấy không còn hy vọng và muốn bảo vệ tính mạng của binh sĩ của mình càng nhiều càng tốt, Trung tá Đính họp tất cả sĩ quan bộ chỉ huy, các đơn vị trưởng trực thuộc và tuyên bố ý định ngưng chiến đấu. Ông ra lệnh sĩ quân Ban 2 đem một miếng vải trắng đến cổng trại và treo ở đó.

Tiếp đó, việc liên lạc vô tuyến với quân Bắc Việt đã được thực hiện và các thỏa thuận về buông súng tiến hành: 1,500 binh sĩ VNCH bị bắt giữ, cùng với 22 khẩu đại bác, trong đó có pháo đội 175 ly và một pháo đội 105 ly cùng một số đại bác phòng không 50 ly bốn nòng và 40 ly hai nòng. Trung đoàn 56 bộ binh vĩnh biệt Tân Lâm, để sau đó trung đoàn được tái lập ở gần Mỹ Chánh“.

Trung Đoàn 56 tinh nhuệ nhất VNCH tại sao thua – Số phận của Phạm Văn Đính sau khi hàng QGP

Trung tá Phạm Văn Đính công hay tội?

Việc quyết định đầu hàng của Trung tá Đính đã cứu mạng được hơn 1.500 thuộc cấp của mình và hàng ngàn binh sĩ cả hai bên. Tuy nhiên ông cũng không quên bảo vệ cho cố vấn và những thuộc cấp không chịu đầu hàng của mình bằng cách gọi trực thăng tới di tản và điện đàm với QGPMN nói đó chỉ là trực thăng cứu thương yêu cầu không được bắn hạ. Mặc dù nếu bắt sống cố vấn Mỹ ông sẽ được coi là người hùng trong quân đội Bắc Việt.

Trung tá Đính sau đó được giữ lại làm giảng viên trường Pháo binh ở Bắc Việt Nam và nghỉ hưu với quân hàm Đại tá.