Lịch sử thế giới

Sự phát triển của phù thuỷ và thời kỳ đen tối trung cổ tại châu Âu

Bài viết này nhằm đưa ra một cách khái quát nhất về lịch sử phù thuỷ và việc thực hành ma thuật tại châu Âu. Vì tất cả chỉ là những câu chuyện xưa cũ của quá khứ nên đọc để tìm hiểu thôi chứ đừng tiêu cực quá nghen!
75

Nếu bạn từng mơ ước được học tại Hogwarts thì bài viết này có thể xem như trải nghiệm sương sương phần nhận môn của môn học Lịch Sử Phép Thuật (History of Magic) – nghiên cứu lịch sử của giới phù thủy. Môn lịch sử pháp thuật được dạy từ năm thứ nhất tới năm thứ năm, cộng thêm 2 năm lựa chọn ở năm thứ sáu và bảy. Giáo sư dạy môn này là Cuthbert Binns. Ông là giáo viên ma duy nhất trong trường, rất bảo thủ. Một số người nói rằng thậm chí ông ta không nhận ra là mình đã chết, đơn giản là một hôm thức dậy và bỏ lại cơ thể phía sau. Lớp học này thường rất buồn tẻ và hầu như không học sinh nào chú ý nghe giảng (ngoại trừ Hermione Granger) ~ Thôi không dài dòng nữa, vào vấn đề chính nào!

Hành hình phù thuỷ thời trung cổ tại châu Âu
Hành hình phù thuỷ thời trung cổ tại châu Âu

Các phù thủy thường là những người bị những người theo Ki-tô giáo (Cơ Đốc giáo/ Christianity) thời kỳ đầu ở Âu châu coi là hiện thân của thế lực tà ác, hắc ám do những nhận thức sai lầm về tự nhiên và sự thao túng quyền lực trong vấn đề biện giải Kinh Thánh, hoặc giả là do các tác động của yếu tố xã hội thời kỳ bấy giờ – là nguyên nhân của mọi đau khổ, bệnh tật và đặc biệt là việc hiếm muộn của các gia đình trong làng và “cái chết đen” – bệnh dịch hạch. Họ – những người phù thuỷ nam và nữ là nguồn cảm hứng cho hình tượng lễ hội Halloween trong thời hiện đại.

Hình ảnh của các phù thủy đã xuất hiện dưới nhiều hình thức khác nhau trong suốt lịch sử nhân loại – từ những người phụ nữ xấu xa, mũi có mụn đang túm tụm trên vạc nước sôi cho đến những sinh vật mặt hốc hác cưỡi chổi bay qua bầu trời với những chiếc mũ nhọn. Trong văn hóa đại chúng, phù thủy ở Âu Châu được miêu tả là một bà nội trợ sống ở ngoại ô bìa rừng các kiểu, vẻ mặt hết sức nhân từ và chiếc mủi tẹt; hay là một cậu thiếu niên vụng về học cách kiểm soát sức mạnh của mình, hay bộ ba chị em quyến rũ (như trong phim Sabrina vậy á) chiến đấu với thế lực của cái ác. Tuy nhiên, lịch sử thực sự của các phù thủy lại đen tối và thường đối với các phù thủy là sự chết chóc – một cái chết vô cùng tàn khốc và không bao giờ được minh oan dù họ có phải hay không.

Các phù thủy thuở ban đầu là những người thực hành các phép thuật phù thủy, sử dụng các ma thuật kì bí (được cho là dựa vào khoa học) và kêu gọi các linh hồn giúp đỡ hoặc mang lại sự thay đổi vận mệnh. Hầu hết các phù thủy được cho là người ngoại giáo làm công việc của Ma quỷ. Tuy nhiên, nhiều người chỉ đơn giản là những người chữa bệnh bặng thảo dược hoặc được gọi là “những người phụ nữ thông thái” mà sự lựa chọn nghề nghiệp của họ đã bị hiểu nhầm – vì họ là nữ cho nên lại dễ bị kết tội là phù thuỷ dù họ chỉ chữa bệnh (thật sự không hiểu nổi).

Không rõ chính xác thời điểm phù thủy xuất hiện trên bối cảnh lịch sử, nhưng một trong những ghi chép sớm nhất về phù thủy là trong Kinh thánh trong sách Sa-mu-ên thứ 1, được cho là được viết vào khoảng năm 931 trước Công nguyên đến năm 721 trước Công Nguyên . Nó kể về câu chuyện khi Vua Sau-lơ tìm kiếm phù thủy Endor (trong Kinh Thánh miêu tả bà này là một bà đồng bóng) để triệu hồi linh hồn của nhà tiên tri đã chết là Sa-mu-ên (Samuel) để giúp ông đánh bại quân đội Phi-li-tin (Philistine). Theo như các nhà giải Kinh thì chẳng có linh hồn nào ở đây cả, tất cả chỉ là sự lừa bịp của ma quỷ, theo giáo lý đại đa số các nhánh (hệ phái) của Ki-tô giáo chủ trương thì con người sau khi chết linh hồn sẽ bị đưa đến nơi gọi là Paradi (chỗ trống không) và bị giam giữ ở đó cho đến ngày Tận Thế chứ không có việc linh hồn người chết quay trở về dương thế báo mộng hay can thiệp vào đới sống con người.

Quay lại câu chuyện trên về vị vua đầu tiên của dân Do Thái – Sau – lơ, phù thủy Endor được cho là đã đánh thức linh hồn tiên tri Sa-mu-ên, người sau đó đã tiên tri về cái chết của Sau-lơ và các con trai của ông. Ngày hôm sau, theo Kinh Thánh ký thuật lại, các con trai của Sau-lơ chết trong trận chiến, và vua Sau-lơ đã tự sát ngay sau đó.
Các câu Kinh thánh khác trong Kinh Thánh Cựu Ước cũng lên án các thầy phù thủy (cả nam và nữ), chẳng hạn như sách Xuất Ê-díp-tô Ký đoạn 22 câu 18 được trích dẫn, nói rằng, “ngươi chớ để các đồng cốt (phù thuỷ, đồng bống, bói toán) sống”. Có nhiều đoạn Kinh thánh khác cũng bổ sung cảnh báo về việc bói toán, bùa chú hoặc sử dụng tà thuật để liên lạc với người chết. (mình không tiện liệt kê ra hết ở đây).

Hội chứng cuồng loạn phù thủy (witch hysteria) thực sự bùng phát ở châu Âu vào giữa những năm 1400 SCN, khi nhiều phù thủy bị buộc tội thú nhận, thường bị tra tấn, về nhiều hành vi xấu xa. Trong vòng một thế kỷ, các cuộc săn lùng phù thủy diễn ra phổ biến và hầu hết những người bị buộc tội đều bị xử tử bằng cách hoả thiêu trên cọc hoặc treo cổ. Phụ nữ độc thân, góa bụa và những phụ nữ khác ngoài lề xã hội là đối tượng đặc biệt được nhắm đến. (Ở đây cần lưu ý không phải chỉ có phụ nữ nhưng là cả đàn ông nữa, nhưng phụ nữ thì chiếm đa số).

Giữa những năm 1500 và 1660, có tới 80.000 người bị nghi là phù thủy đã bị giết ở châu Âu. Khoảng 80% trong số họ là phụ nữ được cho là có quan hệ tình cảm với Ác quỷ và được xem là tấm lòng dẫy đầy dục vọng. Nước Đức có tỷ lệ hành quyết phù thủy cao nhất, trong khi tại Ireland lại có tỷ lệ thấp nhất.

Việc xuất bản cuốn sách “Malleus Maleficarum” – được viết bởi hai tu sĩ người Đức dòng Đa Minh (Dominica) được ra đời vào năm 1486 được xem là nỗi ám ảnh của Châu Âu thời trung cổ và là đòn bẫy thúc đẩy cho sự mê tín mù quáng của hàng giáo phẩm giáo hội tàn sát nhiều người vô tội nhưng mượn danh Thượng Đế (chỗ này mọi người phải lưu ý. Thượng Đế hay Kinh Thánh đề không nói đến mấy cái này, toàn mấy ông này tự viết sách, tự buộc tội và tự làm theo quan điểm của mình chứ chẳng có Thượng Đế hay kinh kệ nào bảo làm vậy hết cả)- nhiều nhà sử học cho rằng chính nó đã có khả năng đã thúc đẩy hội chứng cuồng phù thủy lan truyền. Cuốn sách, thường được dịch là “Búa phù thủy” (The Hammer of Witches) , về cơ bản là một hướng dẫn về cách xác định, săn lùng và thẩm vấn phù thủy.

“Malleus Maleficarum” được coi là cẩm nang chống lại phù thủy là dị giáo, và nhanh chóng trở thành cơ sở quyền lực cho những người theo Cải Chính Giáo và Công giáo nhưng nhất là những người theo Thanh Giáo (chủ yếu những cái chết trong thời kỳ này là do Thanh Giáo gây ra) thởi đó tiến hành các cuộc thanh trừng tà thuật nhằm cố gắng loại bỏ những phù thủy sống giữa họ. Trong hơn 100 năm, cuốn sách đã bán được nhiều bản sao hơn bất kỳ cuốn sách nào khác ở châu Âu ngoại trừ Kinh Thánh.

Khi hội chứng cuồng loạn phù thủy suy giảm ở châu Âu, nó lại phát triển ở “Thế giới Mới”, nơi đang quay cuồng với các cuộc chiến tranh giữa người Pháp và người Anh, dịch bệnh đậu mùa và nỗi sợ hãi liên tục bị các bộ tộc Mỹ bản địa láng giềng tấn công. Bầu không khí căng thẳng đã đến thời điểm chín muồi để “tìm vật tế thần”. Có lẽ những của lễ đó được biểu trưng bởi những phiên tòa xét xử phù thủy nổi tiếng nhất diễn ra ở thị trấn Salem, thị trấn Massachusetts vào năm 1692.

Các phiên tòa xét xử phù thủy tại Salem bắt đầu khi Elizabeth Parris 9 tuổi và Abigail Williams 11 tuổi bắt đầu bị phù, co cứng cơ thể và la hét mất kiểm soát (ngày nay, người ta tin rằng họ bị đầu độc bởi một loại nấm gây co thắt và ảo tưởng) . Khi có nhiều phụ nữ trẻ bắt đầu biểu hiện các triệu chứng trên, chứng cuồng loạn hàng loạt xảy ra sau đó và ba phụ nữ bị buộc tội là phù thủy: Sarah Good, Sarah Osborn và Tituba, một phụ nữ nô lệ thuộc sở hữu của cha Parris. Tituba thú nhận là một phù thủy và bắt đầu buộc tội người khác sử dụng ma thuật hắc ám (ma thuật đen). Vào ngày 10 tháng 6, Bridget Bishop trở thành phù thủy đầu tiên bị buộc tội bị xử tử trong Cuộc thử thách phù thủy tại Salem khi cô bị treo cổ tại giá treo cổ Salem. Cuối cùng, khoảng 150 người đã bị buộc tội và 18 người đã bị xử tử. Phụ nữ không phải là nạn nhân duy nhất của cuộc thanh trừng phù thủy tại Salem; sáu người đàn ông cũng bị kết án và hành quyết.

Tuy nhiên, Massachusetts không phải là bang đầu tiên trong số 13 bang ám ảnh về phù thủy lúc đó. Tại Windsor, Connecticut năm 1647, Alse Young là người đầu tiên ở Mỹ bị hành quyết vì tội danh phù thủy. Trước khi phiên tòa xét xử phù thủy cuối cùng của Connecticut diễn ra vào năm 1697, 46 người đã bị buộc tội là phù thủy ở bang đó và 11 người đã bị xử tử vì tội này.
Ở Virginia, mọi người ít điên cuồng hơn về phù thủy hơn một chút. Trên thực tế, ở Lower Norfolk County vào năm 1655, một đạo luật đã được thông qua về việc buộc tội sai một người nào đó là phù thủy. Tuy nhiên, phù thủy vẫn là một mối quan tâm rất lớn. Khoảng hai chục phiên tòa xét xử phù thủy (chủ yếu là phụ nữ) đã diễn ra ở Virginia từ năm 1626 đến năm 1730. Không ai trong số bị cáo bị xử tử. (lúc này giáo hội và chính quyền đã lấy lại lý trí).

Một trong những phù thủy nổi tiếng nhất trong lịch sử tại Virginia là Grace Sherwood, người bị hàng xóm cáo buộc rằng cô đã giết con heo (lợn) của họ và lấy bông (để dệt vải) của họ. Những lời buộc tội khác đã được đưa ra sau đó và Sherwood bị đưa ra xét xử vào năm 1706.

Tòa án đã quyết định sử dụng một phương pháp kiểm nghiệm bằng nước gây đã gây tranh cãi trong lịch sử để xác định cô có tội hay vô tội. Tay và chân của Sherwood bị trói và cô ấy bị ném vào một hồ nước. Người ta cho rằng nếu cô bị chìm, cô vô tội; nếu cô ấy nổi, cô ấy có tội. Sherwood không chìm và bị kết tội là phù thủy. Cô ấy không bị giết mà bị bỏ tù và trong tám năm.

Một bài báo châm biếm (được cho là do Benjamin Franklin viết) về một phiên tòa xét xử phù thủy ở New Jersey được đăng trên tờ báo Pennsylvania Gazette vào năm 1730. Nó đưa ra ánh sáng sự vô lý của một số cáo buộc tội danh phù thủy. Không lâu trước khi phù thủy Manila chết ở Mỹ và luật pháp đã được thông qua để giúp bảo vệ mọi người khỏi bị buộc tội và kết án sai.

Các phù thủy thời hiện đại của Thế giới phương Tây vẫn đang đấu tranh để thay đổi khuôn mẫu và thanh tẩy nỗi oan trong lịch sử của họ. Hầu hết là thực hành Wicca, một tôn giáo chính thức ở Hoa Kỳ và Canada.

Phù thuỷ theo đạo Wicca tuyệt đối tránh xa cái ác và sự xuất hiện của cái ác bằng mọi giá. Phương châm của họ là “không gây hại gì” và họ cố gắng sống một cuộc sống hòa bình, khoan dung và cân bằng, hòa hợp với thiên nhiên và con người.

Nhiều phù thủy thời hiện đại vẫn thực hiện phép thuật phù thủy, nhưng hiếm khi có điều gì nham hiểm về nó. Những câu thần chú và câu thần chú của họ thường bắt nguồn từ quyển Book of Shadows, một bộ sưu tập về trí tuệ và phép thuật của thế kỷ 20, và có thể được so sánh với hành động cầu nguyện trong các tôn giáo khác. Một loại thuốc phù thủy thời hiện đại hiện nay có nhiều khả năng là một loại thảo dược chữa cảm cúm thay vì một bùa chú để làm hại ai đó.

Nhưng các phù thủy – dù thực tế hay bị buộc tội – vẫn phải đối mặt với sự ngược đãi và cái chết. Nhiều người đàn ông và phụ nữ bị nghi sử dụng phép thuật phù thủy đã bị đánh đập và giết chết ở Papua New Guinea kể từ năm 2010, trong đó có một người mẹ trẻ bị thiêu sống. Trong lịch sử thế giới ghi nhận các đợt bạo lực tương tự đối với những người bị cáo buộc là phù thủy đã xảy ra ở Châu Phi, Nam Mỹ, Trung Đông và trong các cộng đồng nhập cư ở Châu Âu và Hoa Kỳ.

Tống Duệ Uyên

Lịch sử thế giới

Tituba và vụ xét xử phù thủy khủng khiếp nhất lịch sử nước Mỹ

Tại phiên tòa xét xử phù thủy ở thành phố Salem, Boston năm 1690, những lời khai của Tituba đã gây chấn động nước Mỹ. Vụ xét xử có kết cục vô cùng khủng khiếp trong lịch sử nước Mỹ.
72

Tituba là một nữ nô lệ Nam Mỹ làm việc cho ông chủ Samuel Parris, tổng trưởng thành phố Salem, Boston. Bà ta được giao nhiệm vụ trông coi hai cô con gái bé nhỏ của Parris là Betty và Abigail.

Mọi chuyện bắt đầu khi hai cô bé có triệu chứng gặp phải những cơn đau và kích động, và mê sảng mãi không dứt mà không làm cách nào chữa được. Trong những cơn mê, hai đứa bé nhìn thấy lờ mờ hình bóng của Tituba và hai người hầu gái khác là Sarah Good và Sarah Osburne. Các bác sĩ ở Salem lúc đó, một phần vì bó tay, một phần vì muốn bảo vệ danh tiếng của mình nên đã cáo buộc Tituba và hai người phụ nữ đã yểm thuật phù thủy lên hai cô bé.

Một phiên tòa được lập ra, và ba người phụ nữ liền bị đưa ra đấu tố. Những tưởng Tituba sẽ kêu oan cho bản thân, nhưng hóa ra không phải. Bà ta thừa nhận mình là phù thủy, và trực tiếp tố cáo hai người phụ nữ còn lại là đồng phạm. Tituba còn kể lại một cách sinh động khung cảnh gặp gỡ của họ với quỷ dữ, trong đó có cả những sinh vật mà theo lời bà ta kể là “thân chim, cánh chim và đầu phụ nữ”. Tituba không biết đám sinh vật này là gì, nên người ta tạm gọi chúng là “Harpy”. Bà ta nói rằng Sarah Good và Sarah Osburme đã cố gắng lôi kéo bà yểm bùa hai đứa bé, nhưng bà ta không chịu theo.

Xem thêm: Sự phát triển của phù thuỷ và thời kỳ đen tối trung cổ tại châu Âu.

Lời khai của Tituba đã mặc nhiên được coi là lời nhận tội, bất chấp sự kêu oan của hai bà Sarah tội nghiệp. Một thời gian sau, Sarah Good và Sarah Osburne bị kết tội là phù thủy và bị đem treo cổ. Còn Tituba thì được cho trắng án với điều kiện bà phải khai thêm về giới phù thuủy ở Salem. Tituba tiếp tục nói rằng còn có rất nhiều phù thủy đang sống trà trộn trên khắp thành phố. Bà nói rằng bà từng thấy một cuốn sổ ghi tên rất nhiều phù thủy, nhưng chỉ nhớ được hai cái tên là Sarah Good và Sarah Osburne.

Lời khai của Tituba nhanh chóng trở thành cơn sốt phù thủy trên khắp Salem. Rất nhiều người đã bị đấu tố oan sai chỉ vì một vài dấu hiệu rất vô lí. Thậm chí một số người còn lợi dụng việc đấu tố để trả thù tư lợi cá nhân. Hàng trăm vụ xử tử và tra tấn, nhục hình vô cùng tàn bạo đã xảy ra một cách tự phát mà không cần phải qua tòa án. Thậm chí cả những người nổi tiếng tốt bụng cũng bị đấu tố và có cả chuyện anh em người thân trong nhà đấu tố lẫn nhau. Những hình phạt thì hết sức dã man. Từ treo cổ, dìm nước cho đến đá đè.

Bản ghi lại lời khai của Tituba tại phiên tòa xét xử phù thủy ở Salem năm 1690.

Bản dịch nội dung lời khai của Tituba:

Hathorne: Tituba ngươi quen với linh hồn ác quỷ nào?

Tituba: Không.

Hathorne: Tại sao ngươi lại làm tổn thương những đứa trẻ này?

Tituba: Tôi không làm tổn thương chúng.

Hathorne: Vậy đó là ai?

Tituba: Tôi biết đó là ma quỷ.

Hathorne: Ngươi đã nhìn thấy ma quỷ bao giờ chưa?

Tituba: Ma quỷ tìm đến tôi và bắt tôi làm theo chúng.

Hathorne: Ngươi đã nhìn thấy ai?

Tituba: Bốn người phụ nữ đôi làm tổn thương bọn trẻ.

Hathorne: Họ là ai?

Tituba: Goody Osbourne, Sarah Good và tôi không biết 2 người kia là ai. Sarah Good và Osbourne sẽ bắt tôi làm tổn thương những đứa trẻ.

Hathorne: Họ đã nói gì với ngươi

Tituba: Họ nói làm tổn thương bọn trẻ?

Hathorne: Và ngươi có làm chúng bị thương không?

Tituba: Không có bốn người phụ nữ và một người đàn ông họ làm tổn thương những đứa trẻ và sau đó đè lên tôi và họ nói với tôi nếu tôi không làm tổn thương những đứa trẻ, họ sẽ làm tổn thương tôi.

Hathorne: Nhưng ngươi đã không làm tổn thương chúng?

Tituba: Vâng, tôi sẽ không làm tổn thương chúng nữa.

Hathorne: Ngươi không xin lỗi vì ngươi đã làm tổn thương chúng?

Tituba: Vâng.

Vụ xét xử nổi tiếng lịch sử nước Mỹ này có tới 19 người bị giết bao gồm cả nam lẫn nữ, và hơn 150 người bị cầm tù và tra tấn.

Nhưng đến cuối cùng, Tituba đã cố gắng rút lại toàn bộ lời khai, và thừa nhận rằng ông chủ Samuel Parris đã đánh đập và bắt bà ta phải khai như thế.

Tituba về sau được thả ra, và không ai biết tung tích của bà từ đấy.