Lịch sử Việt Nam

Trào lưu tẩy trắng, xét lại lịch sử tại Việt Nam – Ý đồ thâm độc

Chủ nghĩa xét lại lịch sử là một hành động nguy hiểm, biến những kẻ tấn công hay gây chiến thành những nạn nhân. Và khiến những nạn nhân thành những kẻ nguy hiểm, khát máu.
9

Chủ nghĩa xét lại lịch sử là gì?

Nói minh họa một cách đơn giản, Chủ nghĩa xét lại lịch sử là việc người Ukraine sẵn sàng từ bỏ những ký ức đẹp đẽ và hào hùng nhất về cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại của nhân dân Liên Xô – trong đó có người dân Ukraine diễn ra vào Thế chiến thứ 2. Vậy những người Ukraine đã làm gì? Họ yêu cầu phía Nga phải bồi thường vì đã giải phóng Ukraine, họ tạt nước và xúc phạm những người cựu binh già, họ phủ nhận việc lên án chủ nghĩa phát xít tại Liên Hợp Quốc. Có không ít người Ukraine bày tỏ rằng nếu Đức xâm chiếm Ukraine, thì tương lai họ có thể sẽ giàu có và sung túc hơn.

Tháng 5/2020, một số quan chức ngoại giao Ba Lan lớn tiếng kêu gọi Nga ngưng tổ chức ngày duyệt binh Chiến thắng phát xít Đức và họ vu cáo Nga là quốc gia gây ra chiến tranh bằng việc xâm chiếm rìa phía Đông của Ba Lan. Họ kết luận rằng Nga cần phải thừa nhận là quốc gia gây chiến thay vì là một quốc gia chiến thắng. 

Điều này, khiến phía Đức nóng mặt. Ngoại trưởng Đức Heiko Maas trong một bài viết vào tháng 5/2020, đã lên án mạnh mẽ việc tôn vinh chủ nghĩa phát xít và chủ nghĩa xét lại. Bản thân bài viết của Ngoại trưởng Đức cũng kết luận rằng chính Đức là quốc gia gây chiến tranh bằng cách xâm chiếm Ba Lan – chứ không phải Nga, và cũng là quốc gia phải chịu trách nhiệm về diệt chủng người Do Thái.

Chủ nghĩa xét lại là một hành động nguy hiểm, biến những kẻ tấn công hay gây chiến thành những nạn nhân. Và khiến những nạn nhân thành những kẻ nguy hiểm, khát máu.

Chủ nghĩa xét lại tại Việt Nam là gì?

Đó là việc nhân danh nghiên cứu và tìm hiểu lịch sử, rồi lớn tiếng phủ nhận lịch sử, truyền bá thông tin sai lệch về lịch sử. Một số ví dụ đơn giản, như là những luận điểm kiểu như Việt Nam Cộng Hòa, Mỹ và đồng minh không thua tại Việt Nam. Rồi phía này chỉ nhắm vào việc bảo vệ tự do, dân chủ, độc lập, còn phía Bắc Việt là những người gây ra tội ác chiến tranh. 

“Bắc Việt điều động đặc công đánh các sân bay Thái Lan có phải là một hành vi xâm phạm chủ quyền, lãnh thổ hay không? Việt Cộng không công bằng khi chỉ biết đánh lén” – Đó là câu hỏi nhận được rất nhiều luồng tranh luận trong một diễn đàn nghiên cứu lịch sử, mà người hỏi tự nhận là hỏi ngu, về các sự kiện đặc công Việt Nam tiến đánh các căn cứ quân sự, sân bay Utapao, Udon, Ubon… trên đất Thái Lan trong những năm từ 1968 đến 1972. 

Vậy, các căn cứ quân sự, sân bay đó dùng để làm gì? Đều dùng để các lượt máy bay của Mỹ đánh phá Việt Nam. Vậy hành động của phía Thái Lan lúc ấy có được coi là xâm phạm chủ quyền lãnh thổ Việt Nam hay không? Máy bay Mỹ bay từ các địa điểm đó để làm gì, nghiên cứu hải dương học hay bay chơi chơi? Thưa rằng là không. Những chuyến bay đó tiến thẳng đến miền Bắc Việt Nam, trút bom đạn xuống, bao nhiêu người dân thường thiệt mạng. Các ông ném bom đạn vào người khác thì được, còn khi người khác đột kích phá máy bay của các ông nhằm ngăn chặn hành động đó, thì các ông kêu ca là đánh lén, mất công bằng, xâm phạm chủ quyền trái phép. Khôn như thế, thì ai chơi được? 

Tháng 8/2018, nhà sử học Dương Trung Quốc nói Pháp không xâm lược Việt Nam, ông cho rằng liên quân Pháp – Tây Ban Nha mượn cớ triều đình nhà Nguyễn cấm đạo để nổ súng xâm lược Việt Nam với mục tiêu tìm đường vào Trung Quốc. Nhiều luồng suy nghĩ theo đó mà được suy luận ra, rằng chính những sĩ phu yêu nước và người dân đã quá “nhạy cảm” khi đứng lên chống lại phía liên quân. Nếu đàm phán kỹ càng thì Việt Nam hoàn toàn có thể tránh khỏi việc trở thành thuộc địa như cách mà Thái Lan đã chọn đứng giữa Pháp và Anh. Tức là bây giờ, những người chống Pháp trở thành những kẻ phàm phu tục tử, suy nghĩ thấp hèn, không biết tính chuyện đại sự. 

Nhà sử học Dương Trung Quốc cho rằng liên quân Pháp – Tây Ban Nha mượn cớ triều đình nhà Nguyễn cấm đạo để nổ súng xâm lược Việt Nam với mục tiêu tìm đường vào Trung Quốc. Ảnh: Nguyễn Đông.

Luận điểm này, khiến bao công lao, bao nhiêu tính mạng người Việt đã mất trong thời kỳ chống Pháp xâm lược Việt Nam giai đoạn đầu, trở thành những cái chết vô ích, thái quá. Việt Nam không phải là “vùng đệm” mà Pháp thích mượn thì mượn, người Việt hi sinh tại Đà Nẵng Gia Định, Huế, Hà Nội là để chống Pháp, càng không phải vì bảo vệ Thiên Triều.

Những ngụy biện VNCH và đồng minh không thua tại Việt Nam

Tờ VOA và BBC cùng cho rằng, phía Việt Cộng đánh lén, đánh du kích và không dám đối đầu với quân VNCH và đồng minh, những nhà báo của tờ này cho rằng chiến thắng của Việt Cộng là không oai hùng vì “những võ sĩ chỉ chiến thắng qua cuộc đấu tay đôi công bằng tại võ đài chứ không tại hầm mỏ với đủ loại bẫy”. Nhưng, xét công bằng, thì trang bị của Việt Cộng có ngang với phía VNCH đồng minh không? 

Một luồng ý kiến khác, cho rằng phía Việt Cộng đã chiến đấu không công bằng khi dùng nhân dân miền Nam làm lá chắn, Việt Cộng trà trộn vào dân, huy động nhân dân tham gia vào chiến tranh. Còn phía VNCH và đồng minh thì chỉ muốn bảo vệ nhân dân, bảo vệ tự do dân chủ. Vậy thì Mỹ Lai, Ấp Bắc, Bình Hòa, Phong Nhất Phong Nhị… từ đâu mà có? Bên cạnh đó, đây là cuộc chiến giữa nhân dân Việt Nam với những thế lực ngăn cản việc thống nhất Tổ Quốc, thì bất cứ thành phần nào cũng được tham gia. Chiến đấu vì Tổ Quốc không phải là việc của một nhóm người. Tổ Quốc là của chung, tất cả người dân Việt Nam phải góp vào đó, mỗi người dân là một binh lính. Như trong lịch sử, những lần kháng chiến chống Tống, Mông – Nguyên,… thì ngoài lực lượng quân đội, còn có lực lượng dân quân, nghĩa binh, người dân tộc thiểu số tham gia. 

Vừa tròn một năm, báo BBC ra xã luận nhận định rằng chiến dịch Linebacker II – mà chúng ta hay quen gọi là Điện Biên Phủ trên không, là phía Mỹ đã dành chiến thắng vì đã hủy diệt miền Bắc, khiến nhân dân miền Bắc sợ hãi và bắt ép Việt Cộng phải ngồi vào bàn đàm phán. Và người Mỹ không thua vì người Mỹ nhân từ, không muốn dùng bom nguyên tử.

Vậy thì quốc gia nào đã tung hô B52 là pháo đài bay không thể bị bắn rơi, rồi đùng cái bị bắn rơi mấy chục chiếc? Quốc gia tuyên bố ra vào không phận Hà Nội, Hải Phòng như chỗ không người rồi bị tên lửa Bắc Việt bắn rụng như thị? Rồi quốc gia nào chủ động tuyên bố chấm dứt vì phi công, binh lính “chủ động” khiến may bay bị “hỏng kỹ thuật?” Rồi ngày 22/12, quốc gia nào gửi điện mong muốn tái họp? Rồi Kissinger là người nước nào, mà chỉ dám thanh minh, xin lỗi trước Lê Đức Thọ rồi dàn xếp kí kết hiệp định trong vòng 14 ngày mà không dám yêu cầu gì thêm?

Mà thắng thì đã thắng rồi, thua thì cũng đã thua rồi, mà giờ ngồi viết bài không phục, thì vừa là vụng chèo khéo chống, vừa không dám thừa nhận, đó không phải là việc mà người quân tử thường làm. Quân tử là gì? Như người Đức ấy, thẳng thắng thừa nhận tội lỗi, không né tránh. Chứ không phải là làm những việc tiểu nhân, chẳng hạn như xét lại và đáp phân vào lịch sử.

Nghiên cứu lịch sử là đúng, nhưng nhân danh nghiên cứu lịch sử để truyền bá tư tưởng sai lệch, làm hỏng đi sự kiện lịch sử là sai. Thế hệ sau phải học hỏi quá khứ, để sống cho hiện tại và bảo vệ tương lai, chứ không phải là phán xét, tỏ thái độ, hằn học.

Một ngày nào đó, liệu ở Việt Nam có xảy ra câu chuyện tương tự như ở Ukraine, những thanh thiếu niên trẻ ném đá, chửi bới, nhục mạ những người cựu binh đã chiến đấu vì Tổ Quốc hay không?

Bổn phận thiêng liêng của các thế hệ hiện tại là lưu giữ mãi mãi ký ức về những người – đã trải qua vô số sự hy sinh, thiếu thốn, để bảo vệ tự do của quê hương, chú ý và quan tâm đến các cựu chiến binh yêu quý của chúng ta.

– Vladimir Putin

Xem thêm: “Hiện đại hóa” lịch sử: Sự thiếu hiểu biết giết chết lịch sử

Văn hóa Việt Nam

Ngôn ngữ Sài Gòn xưa: Những vay mượn từ tiếng Pháp

Thời kỳ "một trăm năm đô hộ giặc Tây", đời sống văn hóa, xã hội và đời thường của người Việt Nam nói chung và Sài Gòn nói riêng đã chịu ảnh hưởng sâu rộng từ tiếng Pháp.
12

Chữ Quốc ngữ, vốn được tạo ra bởi một số nhà truyền giáo Tây phương, đặc biệt là linh mục Alexandre de Rhodes (tác giả cuốn Từ điển Việt-Bồ-La năm 1651), với mục đích dùng ký tự Latinh làm nền tảng cho tiếng Việt. “Latinh hóa” chữ Việt ngày càng được phổ biến để trở thành Quốc ngữ, chịu ảnh hưởng bởi những thuật ngữ, từ ngữ mới của ngôn ngữ Tây phương, nổi bật nhất là văn hóa Pháp.

Khi chiếm được ba tỉnh Nam Bộ, người Pháp đã nắm trong tay một công cụ vô cùng hữu hiệu để truyền bá văn hoá đồng thời chuyển văn hoá Nho giáo sang văn hoá Phương Tây. Tờ Gia Định Báo là tờ báo đầu tiên được phát hành bằng chữ Quốc ngữ vào năm 1865, khẳng định sự phát triển và xu hướng của chữ Quốc Ngữ như là chữ viết chính thức của nước Việt Nam sau này.

Linh mục Alexandre de Rhodes
Linh mục Alexandre de Rhodes

Đối với người bình dân, việc tiếp nhận tiếng Pháp đến một cách rất tự nhiên. Người ta có thể nói “Cắt tóc, thui dê” để chỉ ngày Quốc khánh Pháp 14/7, Quatorze Juliet. Người ta có thể dùng tiếng Tây “bồi” nhưng lại không cảm thấy xấu hổ vì vốn liếng tiếng Pháp của mình vốn chỉ đếm được trên đầu ngón tay. Để tả con cọp, người ta có thể dài dòng văn tự: “tí ti giôn, tí ti noa, lủy xực me-xừ, lủy xực cả moi”. Diễn nôm câu này là một chút màu vàng (jaune), một chút màu đen (noir), nó ăn thịt ông (monsieur), nó ăn thịt cả tôi (moi).

Nhân đây cũng xin nói thêm về những đại danh từ nhân xưng như toa (anh, mày – toi), moa hay mỏa (tôi, tao – moi), en hay ẻn (cô ấy, chị ấy – elle), lúy hay lủy (anh ấy, hắn – lui), xừ hay me-xừ (ông, ngài – monsieur)… Học trò trường Tây, những nhà trí thức khoa bảng hay cả những kẻ tỏ ra “thời thượng” ngày xưa thường dùng những đại từ này. Cũng vì thế có một câu mang tính cách châm chọc: “Hôm qua moa đi xe lửa, buồn tiểu quá nên moa phải… trên đầu toa” (toa ở đây có 2 nghĩa: toa xe lửa nhưng cũng có ý là toi (anh) trong tiếng Pháp).

Nói thêm về hỏa xa, người Pháp xây dựng đường xe lửa đầu tiên ở Việt Nam tại Sài Gòn từ năm 1881. Đây là đoạn đường ray (rail) từ Cột cờ Thủ Thiêm đến bến xe Chợ Lớn, dài 13km. Mãi đến năm 1885 chuyến xe lửa đầu tiên mới được khởi hành và một năm sau, tuyến đường Sài Gòn-Mỹ Tho dài 71km bắt đầu hoạt động. Sau đó, mạng lưới đường sắt được xây dựng trên khắp lãnh thổ Việt Nam, dùng kỹ thuật của Pháp với khổ đường ray 1 mét. Tính đến năm 1975 miền Nam có khoảng 1.240km đường ray nhưng vì chiến cuộc nên chỉ được sử dụng khoảng 60%.

Nhà ga xe lửa cạnh đầu đường Lê Lai (1931)
Nhà ga xe lửa cạnh đầu đường Lê Lai (1931)

Nhà ga cũng có xuất xứ từ tiếng Pháp gare. Ga là công trình kiến trúc làm nơi cho tàu hoả, tàu điện hay máy bay đỗ để hành khách lên xuống hoặc để xếp dỡ hàng hoá. Từ sự vay mượn này ta có thêm những từ ngữ như sân ga, trưởng ga, ga chính, ga xép… Nhân nói về ga tưởng cũng nên nhắc lại động từ bẻ ghi (aiguiller) tức là điều khiển ghi (aiguille) cho xe lửa chuyển sang đường khác. Trong tiếng Việt, bẻ ghi còn có nghĩa bóng là thay đổi đề tài, chuyển từ chuyện mình không thích sang một đề tài khác.

Ga Đà Lạt (1938)
Ga Đà Lạt (1938)

Có những từ ngữ xuất xứ từ tiếng Pháp nhưng vì lâu ngày dùng quen nên người ta cứ tưởng chúng là những từ “thuần Việt”. Chẳng hạn như cao su (caoutchouc), một loại cây công nghiệp được người Pháp du nhập vào Việt Nam qua hình thức những đồn điền tại miền Nam. Ngôn ngữ tiếng Việt rất linh động trong cách dùng từ ngữ cao su qua các biến thể như giờ cao su (giờ giấc co dãn, không đúng giờ), kẹo cao su (chewing-gum)…

Nhà băng (banque) là một chữ quen dùng trong ngôn ngữ hàng ngày còn xà bông cũng là loại chữ dùng lâu ngày thành quen nên ít người để ý xuất xứ của nó là từ tiếng Pháp, savon. Ở miền Bắc, xà bông được cải biên thành xà phòng, là chất dùng để giặt rửa, chế tạo bằng cách cho một chất kiềm tác dụng với một chất béo. Nổi tiếng ở Sài Gòn xưa có xà bông Cô Ba của Trương Văn Bền, dùng dầu dừa làm nguyên liệu chính.

Ngân Hàng Đông Dương nhìn từ phía sau góc Tôn Thất Đạm - Nguyễn Công Trứ
Ngân Hàng Đông Dương nhìn từ phía sau góc Tôn Thất Đạm – Nguyễn Công Trứ

Chúng ta thấy ngôn ngữ Việt Nam vay mượn từ tiếng Pháp trong rất nhiều lãnh vực. Về ẩm thực, tiếng Việt thường mượn cả cách phát âm đến tên của các món ăn có xuất xứ từ phương Tây. Vào nhà hàng, người phục vụ đưa ra mơ-nuy (thực đơn – menu) trong đó có những món như bít-tết (chữ bifteck của Pháp lại mượn từ nguyên thủy tiếng Anh – beefsteak), những thức uống như bia (rượu bia – bière, được chế biến từ cây hốt bố hay còn gọi là hoa bia – houblon), rượu vang (rượu nho – vin)…

Về thịt thì có xúc-xích (saucisse), pa-tê (paté), giăm-bông (jambon), thịt phi-lê (thịt thăn, thịt lườn – filet). Các món ăn thì có ra-gu (ragout), cà-ri (curry)… Khi ăn xong, khách xộp còn cho người phục vụ tiền puộc-boa (tiền thưởng – pourboire). Ngày nay từ boa hay bo được dùng phổ biến với ý nghĩa cho tiền thưởng, hay còn gọi là tiền phong bao hoặc tiền phục vụ.

Bánh Pâté Chaud
Bánh Pâté Chaud

Từ rất lâu, ở Sài Gòn xuất hiện các loại bánh mì theo kiểu Pháp, miền Bắc lại gọi là bánh tây với hàm ý du nhập từ Pháp. Có nhiều loại bánh đặc biệt như bánh mì ba-ghét (loại bánh mì nhỏ, dài – baguette), bánh pa-tê-sô (một loại bánh nhân thịt, ăn lúc nóng vừa dòn vừa ngon – pathé chaud), bánh croát-xăng (hay còn gọi là bánh sừng bò – croissant).

Người Sài Gòn thường ăn sáng với bánh mì kèm theo nhiều kiểu chế biến trứng gà như ốp-la (trứng chỉ chiên một mặt và để nguyên lòng đỏ – oeuf sur le plat), trứng ốp-lết (trứng tráng – omelette) hoặc trứng la-cóc (trứng chụng nước sôi, khi ăn có người lại thích thêm một chút muối tiêu – oeuf à la coque).

Cà phê Brodard trên đường Catinat
Cà phê Brodard trên đường Catinat

Món không thể thiếu trong bữa ăn sáng là cà phê (café). Cà phê phải được lọc từ cái phin (filtre à café) mới đúng điệu. Người miền Bắc ít uống cà phê nên sau năm 1975 vào Sài Gòn nhiều người đã mô tả cái phin cà phê một cách rất “gợi hình”“cái nồi ngồi trên cái cốc”.

Ngôn ngữ về trang phục cũng chịu ảnh hưởng rất nhiều từ tiếng Pháp. Bình thường hàng ngày người ta mặc áo sơ-mi (chemise), cổ tay có cài khuy măng-sét (manchette). Khi đi tiệc tùng hoặc hội họp thì mặc áo vét (vest) hay bộ vét-tông (veston) kèm theo chiếc cà-vạt (cravate) trên cổ áo sơ mi. Trời hơi lạnh có thể mặc bên trong áo vét một chiếc gi-lê (gilet) và hai tay mang găng (gants) cho ấm.

Ngay cả quần áo lót bên trong cũng mượn từ tiếng Pháp. Phụ nữ thì mang xú-chiêng (nịt ngực – soutien-gorge) và xì-líp (slip). Nam giới thì mặc áo may-ô (maillot) bên trong áo sơ-mi. Mặc quần thì phải có xanh-tuya (dây nịt – ceinture) và khi trời nóng thì mặc quần sóc (quần ngắn, tiếng Pháp là short được mượn từ tiếng Anh shorts).

Trang phục có thể được may từ các loại cô-tông (vải bông – coton) hoặc bằng len (làm từ lông cừu – laine). Trên đầu có mũ phớt (feutre, một loại mũ dạ), mũ be-rê (béret, một loại mũ nồi)… dưới chân là đôi dép săng-đan (sandales), sau này người Sài Gòn lại chế thêm dép sa-bô (sabot nguyên thủy tiếng Pháp là guốc).

Đi lính cho Tây thì được phát đôi giày săng-đá (giày của lính – soldat). Loại lính nhảy dù, biệt kích (ngày nay là đặc công) gọi là còm-măng-đô (commando). Một đoàn xe quân sự có hộ tống được gọi là công-voa (convoi, trông cứ như con voi trong tiếng Việt!). Thuật ngữ quân sự chỉ những công sự xây đắp thành khối vững chắc, dùng để phòng ngự, cố thủ một nơi nào đó được gọi là lô-cốt có xuất xứ từ blockhaus. Ngày nay, chữ lô cốt còn được dùng chỉ những nơi đào đường, thường được rào chắn, vây kín mặt đường, cản trở lưu thông.

Xưa kia cảnh sát được gọi qua nhiều tên: mã-tà (xuất xứ từ tiếng Pháp matraque, có nghĩa là dùi cui), sen đầm (gendarme), phú-lít (police), ông cò (commissaire)… Lực lượng thuế quan (ngày nay gọi là hải quan) được gọi là đoan (douane), lính đoan còn có nhiệm vụ đi bắt rượu lậu là một mặt hàng quốc cấm thời Pháp thuộc.

Nông phẩm thì có đậu cô-ve (còn gọi tắt là đậu ve – haricot vert), đậu pơ-tí-poa (đậu Hòa Lan có hột tròn màu xanh – petits-pois), bắp sú (bắp cải – chou), súp-lơ (bông cải – chou-fleur), xà lách (salade), cải xoong (còn gọi là xà lách xoong – cresson), cà-rốt (carotte), ác-ti-sô (artichaut)…

Tiếng Tây cũng đi vào âm nhạc. Từ điệu valse, tango… đến đàn piano (dương cầm), violon (vĩ cầm), kèn harmonica (khẩu cầm)… Ở các đăng-xinh (khiêu vũ trường – dancing) luôn có ọc-két (ban nhạc – orchestre) chơi nhạc và xuất hiện một nghề mới gọi là ca-ve (gái nhẩy – cavalière). Ngày nay người ta dùng từ ngữ ca-ve với ý chỉ tất cả những cô gái làm tiền, khác hẳn với ý nghĩa nguyên thủy của nó.

Vũ trường Maxim’s trên đường Tự Do cạnh khách sạn Majestic
Vũ trường Maxim’s trên đường Tự Do cạnh khách sạn Majestic

Người phương Tây dùng nhiều sữa và các sản phẩm của sữa nên đã đưa vào ngôn ngữ tiếng Việt những từ ngữ như bơ (beurre), pho-mát (fromage), kem (crème)… Nổi tiếng ở Sài Gòn có hai nhãn hiệu sữa Ông Thọ (Longevity) và Con Chim (Nestlé) như đã nói ở phần trên.

Có người cắc cớ thắc mắc, đàn ông mà lại là ông già thì làm sao có sữa? Xin thưa, hình tượng “Ông Thọ chống gậy” trên hộp sữa chỉ muốn nói lên tuổi thọ (longévité) của người dùng sữa. Trường hợp của Nestlé cũng vậy. Con Chim thì làm gì có sữa? Thực ra thì logo của Nestlé là một tổ chim (gồm chim mẹ và 2 chim con) nhưng người Việt mình cứ gọi là sữa Con Chim cho tiện.

Trụ sở hãng sữa Nestlé (sữa con chim) trên đường Công Lý
Trụ sở hãng sữa Nestlé (sữa con chim) trên đường Công Lý

Thế mạnh của Nestlé là các sản phẩm sữa bò khác như Núi Trắng (Lait Mont-Blanc) và sữa bột Guigoz. Ngày xưa, những gia đình trung lưu đều nuôi con bằng sữa bột Guigoz. Tôi vẫn còn nhớ cảm giác khi ăn vụng một thìa Guigoz của em út: vừa bùi, vừa béo, những hạt sữa nhỏ ly ty như tan ngay trong miệng.

Sữa bột Guigoz được chứa trong một cái lon bằng nhôm, cao 15cm, có sọc ngang, bên trong lại có sẵn thìa để giúp người pha dễ đo lường. Khi dùng hết bột, các bà nội trợ không vứt lon như những loại sữa khác vì lon Guigoz có nắp đậy rất kín nên được “tái sử dụng” trong việc đựng đường, muối, tiêu, bột ngọt…

Logo hình tổ chim của hãng sữa Nestlé
Logo hình tổ chim của hãng sữa Nestlé

Những người thiết kế lon Guigoz chắc hẳn chưa bao giờ nghĩ cái lon lại có nhiều công dụng sau khi sữa bột ở bên trong đã dùng hết. Lon Guigoz đã theo chân những tù nhân cải tạo như một vật “bất ly thân”. Những người “tưởng đi học có 10 ngày” mang theo lon Guigoz để đựng các vật dụng linh tinh như bàn chải, kem đánh răng, vài loại thuốc cảm cúm, nhức đầu để phòng khi cần đến.

Lon Guigoz thường được chúng tôi gọi tắt là “lon gô”. Học tập càng lâu lon gô càng tỏ ra “đa năng, đa hiệu”. Muốn múc nước từ giếng lên thì dùng gô làm gàu, buổi sáng thức dậy dùng gô làm ly đựng nước súc miệng, nhưng gô còn tỏ ra đặc biệt hữu ích khi dùng như một cái nồi để nấu nước, thổi cơm, luộc măng (lấy ở trên rừng), luộc rau, luộc khoai mỳ (“chôm chỉa” khi đi “tăng gia sản xuất”)… nghĩa là làm được tất cả mọi công việc bếp núc.

Chúng tôi ở trong một căn cứ cũ của Sư đoàn 25 tại Trảng Lớn (Tây Ninh) nên có cái may là còn rất nhiều vỏ đạn 105 ly. Người cải tạo săn nhặt những vỏ đạn về và chế thành một cái lò “dã chiến” và lon gô để vào trong lò vừa khít, tưởng như 2 nhà thiết kế vỏ đạn và lon gô đã ăn ý với nhau “từng centimét” ngay từ khâu thiết kế ban đầu! Ai chưa có lon gô thì nhắn gia đình tìm để đựng đồ ăn mỗi khi được vào trại “thăm nuôi”.

Sau 30/4/75 lon gô trở nên hữu dụng vì công nhân, sinh viên, học sinh dùng lon gô để đựng cơm và thức ăn cho bữa trưa. Người Sài Gòn thường đeo một cái túi đựng lon gô khi đi làm, một hình ảnh không thể nào quên của “thời điêu linh” sau 1975.

Tình cờ tôi bắt gặp trang web của Pháp quảng cáo bán lon sữa Guigoz cho những người sưu tầm, giá lên tới 15 euro cho một lon Guigoz xưa, dĩ nhiên là chỉ có lon không, không có sữa!

Người Pháp khi đến Việt Nam mang theo cả chiếc ô-tô (xe hơi – auto, automobile). Xe xưa thì khởi động bằng cách quay ma-ni-ven (manivelle) đặt ở đầu xe, sau này tân tiến hơn có bộ phận đề-ma-rơ (khởi động – démarreur). Sau khi đề (demarrer), xe sẽ nổ máy, sốp-phơ (người lái xe – chauffeur) sẽ cầm lấy vô-lăng (bánh lái – volant) để điều khiển xe… Về cơ khí thì người Sài Gòn dùng các từ ngữ như cờ-lê (chìa vặn – clé), mỏ-lết (molete), đinh vít (vis), tuốc-nơ-vít (cái vặn vít – tournevis), công-tơ (thiết bị đồng hồ – compteur), công tắc (cầu dao – contact)…

Công ty xe hơi Pháp Citroen (REX Hotel Saigon) 1927
Công ty xe hơi Pháp Citroen (REX Hotel Saigon) 1927

Bây giờ nói qua chuyện xe đạp cũng có nhiều điều lý thú. Chiếc xe đạp trong ngôn ngữ Việt mượn rất nhiều từ tiếng Pháp. Trước hết, phía trước có guy-đông (thanh tay lái – guidon), dưới chân có pê-đan (bàn đạp – pedale), săm (ruột bánh xe – chambre à air) và phía sau là bọc-ba-ga (để chở hàng hóa – porte-bagages).

Chi tiết các bộ phận trong xe đạp cũng… Tây rặc. Có dây sên (dây xích – chaine), có líp (bộ phận của xe đạp gồm hai vành tròn kim loại lồng vào nhau, chỉ quay tự do được theo một chiều – roue libre), rồi phanh (thắng – frein) ở cả bánh trước lẫn bánh sau. Thêm vào đó còn có các bộ phận bảo vệ như gạc-đờ-bu (thanh chắn bùn – garde-boue) và gạc-đờ-sên (thanh che dây xích – garde-chaine).

Xe hơi trên đường Nguyễn Huệ
Xe hơi trên đường Nguyễn Huệ

Mỗi chiếc xe đạp xưa còn trang bị một ống bơm (pompe) để phòng khi lốp xe xuống hơi. Bên cạnh đó người ta gắn một chiếc đy-na-mô (dynamo – bộ phận phát điện làm sáng đèn để đi vào ban đêm). Tôi còn nhớ khi tháo tung một cái dynamo cũ thấy có một cục man châm gắn vào một trục để khi trục quay sẽ sinh ra điện.

Hồi xửa hồi xưa, đi xe đạp không đèn vào ban đêm rất dễ bị phú-lít thổi phạt nên nếu xe không đèn, người lái phải cầm bó nhang thay đèn! Sài Gòn xưa có các nhãn hiệu xe đạp mổi tiếng như Peugoet, Mercier, Marila, Follis, Sterling… Đó là những chiếc xe đã tạo nên nền “văn minh xe đạp” của những thế hệ trước và một nền “văn hóa xe đạp” còn lưu lại trong ngôn ngữ tiếng Việt của người Sài Gòn xưa.

Nguyễn Ngọc Chính