Thế giới ngày nay

Trung Quốc đang thâu tóm Đông Nam Á như thế nào?

Mời các bạn cùng tìm hiểu xem, người Hoa, Hoa kiều, hay Trung Quốc thông qua Hoa kiều đã vươn cánh tay của mình, và ảnh hưởng như thế nào đối các nước Đông Nam Á.
174

Indonesia

Bắt đầu với nền kinh tế số 1 khu vực là Indonesia, một quốc gia với GDP ngàn tỷ, dân số khoảng 274 triệu người. Người Hoa thật sự chi phối rất mạnh nền kinh tế này, với tỷ lệ 2,5% dân số toàn quốc đảo này, nhưng chiếm đến… 70% nên kinh tế, thậm trí có những ngành chiếm từ 75-80%. Chưa dừng lại ở đó, 68% doanh nghiệp có quy mô vừa và lớn của Indonesia là thuộc sở hữu của những người Hoa.

Thái Lan

Thái Lan, quốc gia thường được xem là đối thủ của chúng ta trong khu vực thì sao? Người Hoa ở Thái Lan chiếm khoảng 10% dân số nhưng chiếm lĩnh hơn 90% vốn của các doanh nghiệp, 52% vốn của các ngân hàng, lớn hơn tỷ lệ nắm giữ của Hoàng gia Thái Lan và chính phủ. Và tất nhiên, 5 tỷ phú giàu nhất Thái Lan cũng là người gốc Hoa. Với địa vị như vậy, việc người gốc Hoa tham gia chính trường Thái cũng là điều dễ hiểu, tiêu biểu là 2 anh em nhà Thaksin từng thay nhau làm thủ tướng. Ngoài ra người gốc Hoa cũng đã và đang nắm giữ rất nhiều vị trí chủ chốt trong chính phủ.

Philippines

Philippines, với khoảng 1,3 triệu người Hoa, chiếm tỷ lệ khá nhỏ trong tổng số 100 triệu dân ở đây. Trong 500 doanh nghiệp bất động sản, người Hoa ở Philippines chiếm đến 120 doanh nghiệp, khủng khiếp hơn, tất cả các hãng hàng không ở Philippines đều do người Hoa nắm giữ, người Hoa kiểm soát 35% tài sản trong các ngân hàng lớn. Trong 17 người giàu nhất Philippines thì có đến 15 người gốc Hoa.

Malaysia

Malaysia, với tỷ lệ người Hoa là 7 triệu trên tổng số 32 triệu dân, tuy nhiên người Hoa lại kiểm soát đến trên 70% nền kinh tế, sở hữu gần 70% các cơ sở, tổ hợp kinh doanh, sở hữu 73% trong các ngành bất động sản, công – thương nghiệp, 70% các khách sạn. Phần lớn người gốc Hoa (trên 90%) sống ở các thành thị của Malaysia.

Singapore

Singapore có đến 80% dân số “đảo quốc sư tử” là người gốc Hoa, nên tất nhiên họ kiểm soát tất cả mọi mặt.

Myanmar

Myanmar, chịu ảnh hưởng không nhiều của người Hoa, duy nhất Mandalay, một trong hai thành phố lớn nhất nước này bị người Hoa kiểm soát đến 60% tất cả các hoạt động kinh doanh, dịch vụ,…

Lào và Campuchia

Hai anh hàng xóm của chúng ta là Lào và Campuchia, một nước đang được coi là sân sau của Trung Quốc, thay đổi đến chóng mặt nhờ những đồng vốn từ Trung Quốc, 75% nguồn vốn đầu tư vào Campuchia đến từ Trung Quốc, người Trung Quốc đã làm gì trên đất nước Campuchia có lẽ không cần nói nhiều nữa.

Đối với Lào, đầu tư của Trung Quốc vào Lào tăng 1.552 lần chỉ sau 16 năm, giá trị đầu tư của Trung Quốc đạt 10,03 tỷ USD, chiếm 42,73% tổng giá trị đầu tư nước ngoài vào Lào, trong đó tập trung vào các lĩnh vực sản xuất hàng hóa, chiếm 23,54%, thứ hai là nông lâm và chăn nuôi thủy sản, chiếm 23,24%, thứ ba là khai khoáng chiếm 17,99%, ba lĩnh vực dẫn đầu nói trên chiếm tỷ trọng 64,77%, những con số đó đã nói lên tầm ảnh hưởng lớn của Trung Quốc đối với quốc gia này.

Nhiều chuyên gia kinh tế đã nhận định, việc Lào và Campuchia rơi vào bẫy nợ của Trung Quốc chỉ là điều sớm muộn.

Việt Nam

Việt Nam thì sao? Bằng một cách “vi diệu“, Việt Nam hoàn toàn không bị Trung Quốc hay người Hoa kiểm soát dù sát cạnh Trung Quốc.

Theo thống kê, nguồn đầu tư từ Trung Quốc vào Việt Nam chỉ đứng thứ 9 với khoảng 20 tỷ USD, trong 100 người giàu nhất sàn chứng khoán cũng chỉ có khoảng 10 người gốc Hoa, trong top 5 người giàu nhất thì không có bóng dáng người Hoa nào.

Và có một điều khiến Việt Nam trở nên đặc biệt hơn cả, đó là hầu hết người Hoa gần như đã quên mình gốc gác bên Tàu, họ đã hòa mình hoàn toàn vào văn hóa của Việt Nam để trở một dân tộc trong 54 dân tộc anh em của Việt Nam, đóng góp tích cực trong nhiều mặt đời sống, kinh tế, văn hóa, xã hội với tư cách là một công dân Việt Nam, khác phần lớn với các quốc gia trong khu vực.

Vậy lý do gì đã khiến người Hoa không thể thao túng nền kinh tế, văn hóa, chính trị của Việt Nam, chúng ta cùng chờ ở bài sau: Lịch sử người Hoa ở Việt Nam.

Gió Đông Lào

Thế giới ngày nay

Ngày càng có nhiều người Nhật nhìn nhận về Trung Quốc tiêu cực hơn

Hôm qua, kết quả của cuộc khảo sát hàng năm do các tổ chức Nhật Bản và Trung Quốc cho thấy, tỷ lệ người Nhật có nhìn nhận tiêu cực về Trung Quốc lên tới 89,7%.
114

Theo cuộc khảo sát được thực hiện bởi các nhóm bao gồm cả Japan’s Genron NPO, số người Nhật nhìn nhận về Trung Quốc tiêu cực hơn đã tăng 5,0 điểm phần trăm so với năm trước. Tăng lần đầu tiên sau bốn năm.

Về lý do, nhiều người được hỏi viện dẫn rằng, tàu thuyền Trung Quốc đã nhiều lần xâm phạm lãnh hải Nhật Bản, xung quanh quần đảo Senkaku. Trung Quốc tuyên bố chủ quyền với các đảo do Nhật Bản quản lý, và gọi chúng là Điếu Ngư. Các hành động của Trung Quốc được nhìn nhận là không phù hợp với các quy tắc quốc tế.

Cuộc khảo sát này không bao gồm các câu hỏi về phản ứng đối với đại dịch COVID-19, hoặc tình hình vi phạm nhân quyền leo thang ở Hồng Kông.

Tỷ lệ người Nhật Bản cho rằng, mối quan hệ của Nhật Bản với Trung Quốc là quan trọng, đã giảm 8,5 điểm xuống còn 64,2%. Đây là lần đầu tiên giảm xuống dưới 70% kể từ khi các cuộc khảo sát bắt đầu vào năm 2005.

Trong khi đó, tỷ lệ người Trung Quốc có ấn tượng tiêu cực về Nhật Bản tăng 0,2 điểm, lên 52,9%.

Tỷ lệ người Trung Quốc cho rằng, quan hệ Nhật Bản với Trung Quốc là quan trọng, đã tăng 7,7 điểm lên 74,7%. Và người ta nhận thấy, căng thẳng Mỹ – Trung leo thang là nguyên nhân của sự gia tăng điểm số này.

Khi được yêu cầu chỉ ra một quốc gia có thể gây ra mối đe dọa quân sự cho Trung Quốc, 84,1% người Trung Quốc đã chọn Mỹ. Nhật Bản đứng thứ hai, tăng 47,9%, mặc dù đây đã là con số giảm 27,4 điểm so với cùng kỳ năm ngoái.

Cuộc khảo sát được thực hiện từ tháng 9 đến tháng 10, với những người tham gia từ 18 tuổi trở lên. Câu trả lời được cung cấp bởi 1.000 người ở Nhật Bản và 1.571 người ở Trung Quốc.

Xem thêm: 3 thực tập sinh Việt Nam đã thắng kiện công ty Nhật vì bị lừa đi khử phóng xạ

Lịch sử Việt Nam

Giải độc tin đồn năm 2020 về mật ước “Hội nghị Thành Đô”

Thực sự có hay không một cái gọi là mật ước Thành Đô mà qua đó cho phép biến Việt Nam thành một khu tự trị của Trung Quốc trong bài viết này chúng ta sẽ cùng đi tìm hiểu và làm rõ.
67

Những tin đồn về mật ước Thành Đô

Năm 2010, trên internet lan truyền tin giả kể rằng WikiLeaks công bố “tài liệu tuyệt mật” cho biết, đến năm 2020, Việt Nam sẽ trở thành “khu tự trị” của nước ngoài. Dù sau đó người đưa ra tin giả này khẳng định đây chỉ là bịa đặt, thì đến nay, các thế lực thù địch và một số tổ chức, cá nhân thiếu thiện chí vẫn sử dụng để vu khống Đảng, Nhà nước Việt Nam. Và đáng tiếc, một số người đã tin theo, rồi có phát ngôn, hành động thiếu chín chắn…

Trước hết để tiện cho các bạn theo dõi chúng ta cùng tóm tắt hội nghị Thành Đô, cho đến năm 1989 xung đột biên giới Việt-Trung đã kéo dài 10 năm sau một thời gian được vận động hành lang lãnh đạo cấp cao trung quốc là Giang Trạch Dân và Lý Bằng đã gửi lời mời Tổng bí thư và Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng của Việt Nam là Nguyễn Văn Linh và Đỗ Mười sang Trung Quốc bí mật tiếp xúc cấp cao để bàn việc bình thường hóa quan hệ và bàn việc xử lý vấn đề Campuchia.

Trung Quốc lấy lý do là đang Đại hội Thể thao châu Á tổ chức ở Bắc Kinh nên chuyển địa điểm tiếp xúc cấp cao sang thành phố Thành Đô của tỉnh Tứ Xuyên, ngày mùng 3 và mùng 4 tháng 9 tại khách sạn Kim Ngưu thành phố Thành Đô, lãnh đạo cấp cao của Trung Quốc gồm tổng bí thư Giang Trạch Dân và Thủ tướng Lý Bằng đã tiếp xúc với lãnh đạo cấp cao Việt Nam gồm Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh, Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng Đỗ Mười và cố vấn Ban chấp hành Trung ương Phạm Văn Đồng.

Nội dung cụ thể của hội nghị Thành Đô đến nay chưa được công bố nhưng trên mạng internet thì có khá nhiều đồn đoán nói rằng trong Hội nghị Thành Đô Trung Quốc cho Việt Nam “30 năm để chuẩn bị các công việc nhằm đưa Việt Nam đến năm 2020 trở thành một khu tự trị của Trung Quốc”. Mình sẽ diễn dẫn 2 bài viết từ thành phần chống Cộng và chứng minh nó chỉ là bịa và rất mâu thuẫn.

Một trang blog có tên là dân chúng làm báo của tác giả Lê Duy San , trong bài viết nói rằng “Đảng Cộng Sản Việt Nam xin được làm một khu tự trị trực thuộc Bắc Kinh. Wikileaks xác định văn kiện đó là một trong 3,100 bức điện thư lưu trữ tại Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ (!?) “

Hai là chính bài viết của Lê Duy San trích dẫn thêm một bài viết khác của tác giả Huỳnh Tâm trên blog Dân làm báo nói rằng hội nghị Thành Đô phía Việt Nam đã chấp nhận 5 quy ước gồm: “Xác định chủ quyền vùng đảo Bạch Long Vĩ và Vịnh Bắc Bộ, núi Lão Sơn thuộc về TQ, xác định chủ quyền biên giới Trung-Việt từ đất liền đến Biển Đông, Áp đặt luật pháp Trung Quốc vào Việt Nam, kế hoạch đưa quân đội Trung Quốc vào Việt Nam.” (!?)

Trong bối cảnh tình hình biển đông liên tục căng thẳng các tin đồn này được đưa lên mạng đã gây không ít hiệu ứng những người ít hiểu biết về tình hình chính trị Việt Nam thì cảm thấy sốc và có thể trở nên căm giận, những người có niềm tin nhưng nếu chưa từng được biết cụ thể hội nghị Thành Đô bàn bạc điều gì thì cũng dễ hoang mang trong lòng.

Các ông Nguyễn Văn Linh và Đỗ Mười là nhân chứng của Hội nghị Thành Đô. Bên trái là Đại tướng Võ Nguyên Giáp
Các ông Nguyễn Văn Linh và Đỗ Mười là nhân chứng của Hội nghị Thành Đô. Bên trái là Đại tướng Võ Nguyên Giáp

Đối chiếu thông tin của hai bài blog này chúng ta đã thấy mỗi người nói mỗi khác, ông Lê Duy San kêu là Việt Nam xin làm khu tự trị của Trung Quốc và Trung Quốc đã đồng ý cho Việt Nam 30 năm để chuẩn bị đến năm 2020 sẽ sát nhập trong khi đó ông Huỳnh Tâm lại phán rằng ông Nguyễn Văn Linh ký kết năm điểm như vừa nói ở trên, đặt ngược lại câu hỏi rằng nếu lời ông Lê Duy Tân là đúng thì cần gì phải ký kết năm điểm như lời ông Huỳnh Tâm nói bởi vì đã nhận là khu tự trị thì cần gì phải phân định cắm mốc biên giới trên bộ và trên biển, đã xin tự trị tức là đem cả nước dâng nộp thì cần gì phải thừa nhận một cái núi Lão Sơn cỏn con là lãnh thổ Trung Quốc.

Do đó đủ thấy hai bài viết của Lê Duy Tân và Huỳnh Tâm là thiếu cơ sở mà có khi cũng chỉ là suy diễn hoặc thậm chí là địa đặt, nhìn sang các sự kiện gần đây như sự kiện giàn khoan năm 2014 nếu có chuyện Việt Nam đồng ý với năm 2020 sáp nhập vào Trung Quốc chỉ cần gì Trung Quốc phải vội vàng mang giàn khoan với hơn 100 cái tàu to tàu nhỏ sang đặt cách bờ biển Việt Nam chỉ vài chục hải lý để nắn gân Việt Nam xem mềm hay cứng , nếu chắc chắn chỉ còn sáu năm nữa toàn bộ đất nước Việt Nam gồm cả đất liền và hải đảo là của Trung Quốc hết rồi thì năm 2014 cần gì Trung Quốc phải hao tâm tổn trí như vậy.

Về phía Việt Nam nếu năm 1990 đã ký mật ước đồng ý đến năm 2020 làm khu tự trị của Trung Quốc thì cần gì phải mua sắm máy bay, tàu ngầm, tàu chiến của Nga và hiện nay đang đàm phán khắp nơi để mua bán các loại vũ khí phòng thủ đất nước, rồi tình báo Mỹ vốn được tiếng là ở chỗ nào cũng đánh hơi được chẳng lẽ không biết Việt Nam mấy năm nữa thuộc Trung Quốc rồi mà vẫn còn nới bỏ cấm vận Việt Nam và còn định bán vũ khí cho Việt Nam thì há chăng chẳng phải là dại dột, bằng cách đặt ngược lại câu hỏi một chút như vậy chúng ta cũng đã thấy có nhiều điều vô căn cứ.

Vậy rốt cuộc hiệp ước Thành Đô bàn về cái gì?

Chúng ta hãy đi tìm câu trả lời trong chính thông tin của những nhân chứng lịch sử, đó là những người trong cuộc cho đến thời điểm hiện nay trong số những lãnh đạo cấp cao thời kỳ đó chỉ mới có thứ trưởng ngoại giao Trần Quang Cơ là đã công bố hồi ký của mình, trong Hồi ký Trần Quang Cơ. Ông cho biết kết quả hội nghị Thành Đô là một bản tóm tắt 8 điểm trong đó có đến 7 điểm nói về vấn đề Campuchia và chỉ có 1 điểm nói về quan hệ Việt – Trung .Cố thứ trưởng ngoại giao Trần Quang Cơ cho biết sau hai ngày nói chuyện kết quả được ghi lại trong một văn bản gọi là biên bản tóm tắt gồm 8 điểm và có tới 7 điểm nói về vấn đề Campuchia chỉ có một điểm nói về cải thiện quan hệ giữa hai nước mà thực chất chỉ là nhắc lại lập trường cũ của Trung Quốc gắn việc giải quyết vấn đề Campuchia với vấn đề bình thường hóa quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc.

Để rõ hơn về hội nghị này mới các bạn đọc thêm trong chương 13 và chương 14 của hồi ký Trần Quang Cơ sẽ hiểu hơn, xin nói thêm thứ trưởng Trần Quang Cơ là một cán bộ cấp cao và thời kỳ đó thường được nghe dự thính các cuộc họp của Bộ Chính trị Việt Nam, thậm chí đến đại hội 7 của Đảng, ông còn được xem xét lên thay Bộ Trưởng Ngoại Giao Nguyễn Cơ Thạch nhưng ông lấy lý do già yếu nên xin nghỉ. Bởi thế ông Trần Quang Cơ có tư cách là người trong cuộc những điều ông nói về nội dung hội nghị Thành Đô là điều có thể tin được.Thứ trưởng Trần Quang Cơ đã chỉ rõ trong Hội nghị Thành Đô thì nội dung chỉ gồm tám điểm trong đó 7 điểm bàn về vấn đề Campuchia và một điểm nói về việc bình thường hóa quan hệ Việt – Trung do đó có thể nói một cách khẳng định rằng hoàn toàn không có chuyện đến năm 2020 Việt Nam trở thành khu tự trị của Trung Quốc như một số người rêu rao trên mạng.

Giải độc tin đồn năm 2020 Việt Nam sáp nhập vào Trung Quốc
Giải độc tin đồn năm 2020 Việt Nam sáp nhập vào Trung Quốc

==================

* Bài viết được mình hiệu chỉnh và tổng hợp từ báo Nhân Dân và bản tin của kênh VNYoutuber
** Mình search google keyword Hội nghị Thành Đô thì ngoài wikipedia và báo Nhân Dân thì còn lại toàn tin “lề trái”. Tìm trong fnew cũng chưa thấy bài nào nói về vấn đề này nên mong đây sẽ là tư liệu phản biện về cái gọi là “Hiệp ước Thành Đô”.

Phạm Hòa

Văn hóa Việt Nam

Làm gì để bảo vệ “Quốc Phục” Việt Nam?

Gần đây bên Trung Quốc có nhiều nhà thiết kế, những show diễn mặc áo y hệt như Áo dài của Việt Nam, họ còn giải thích là Áo sườn xám cách tân. Họ đạo nhái đã đành lại còn nói là áo của họ cách tân, nói láo một cách trắng trợn.
63

Thời gian vừa qua, sở Văn Hoá Thể Thao TT – Huế đã triển khai cán bộ mặc Áo dài nơi công sở, bên cạnh những lời khen thì vẫn có rất nhiều ý kiến trái chiều, họ chê “rảnh quá bày ra chuyện ra để làm, trở về thời đồ đá, mặc áo dài vướng bận sao làm việc, nhảm nhí, trò hề, lố bịch”…vv,

Khi một ngành văn hoá đang tìm cách nghiên cứu để bảo tồn giá trị văn hoá, di sản mà thế hệ trước để lại thì bị phản đối, chê bai một cách thậm tệ, cổ nhân thường có câu “Văn hoá là quốc hồn quốc tuý” của một dân tộc, việc bảo tồn giá trị áo dài & đang tìm Quốc Phục cho Việt Nam là một việc làm đúng đắn tại sao lại bị phản đối.!

Làm gì để bảo vệ “Quốc Phục” Việt Nam?
Làm gì để bảo vệ “Quốc Phục” Việt Nam?

Không biết vì nguyên nhân gì mà thời gian gần đây, bên TQ có nhiều nhà thiết kế, những show diễn mặc áo y hệt như Áo dài của Việt Nam, họ còn giải thích là Áo sườn xám cách tân, họ đạo nhái đã đành còn nói là áo của họ cách tân, nói láo một cách trắng trợn. Những mẫu áo đó giống y hệt Áo dài Việt Nam sao ko thấy những kẻ ném đá áo dài Việt, những kẻ chê bai sở VHTT TT – Huế vào xem nhỉ, hay là lặn mất tăm..!

Những năm gần đây, chiếc Áo dài của Việt Nam khá nổi tiếng & được công chúng yêu thích, kể cả người nước ngoài cũng vậy, liệu có thuyết âm mưu nào chăng..?, họ muốn biến trang phục truyền thống của mình thành của họ, thiết nghĩ các cấp ban ngành cần phải vào cuộc, người dân cần lên án mạnh mẽ điều này, có như vậy mới bảo vệ được “Quốc Phục” của Việt Nam nói riêng và văn hóa dân tộc nói chung.

Hình ảnh áo dài nơi công sở
Hình ảnh áo dài nơi công sở.

Hiện nay, tại Huế đang chuẩn các hội nghị, hội thảo nghiên cứu bảo tồn & phát huy chiếc áo dài truyền thống Việt Nam, sắp tới sẽ có chương trình “HUẾ KINH ĐÔ ÁO DÀI VIỆT NAM” và các sở ban ngành đang hoàn thiện hồ sơ đề nghị Bộ VHTTDL công nhận Áo dài Huế là di sản văn hoá phi vật thể cấp quốc gia, tiến tới đệ trình lên UNESCO công nhận Áo dài Huế là Di sản văn hoá phi vật thể của Thế giới…!

Chỉ có cách bảo tồn & phát huy gia trị Áo dài, được UNESCO công nhận thì chúng ta mới yên tâm ko bị đạo nhái, không bị anh hàng xóm “Ăn cắp” thôi, vì vậy mình ủng hộ việc các sở ban ngành mặc Áo dài & Áo Ngũ thân nơi công sở, trong lễ chào cờ sáng thứ 2 đầu tiên của tháng…!

Xem thêm: Những kiểu trang phục phổ biến trong lịch sử Việt Nam và các quốc gia đồng văn

Lịch sử thế giới

Tại sao Anh trao trả Hong Kong cho Trung Quốc? – “Thâm như Tàu”

Tại sao Anh trao trả Hong Kong cho Trung Quốc? Có phải Trung Quốc cho Anh thuê Hong Kong hay không? - Người Anh chưa bao giờ thuê Hong Kong. Chỉ là: "Thâm Như Tàu!"
80

Hong Kong thuộc nước nào?

Tôi thấy nhà báo nhà đài, và nhiều người, cả tây lẫn ta, mấy chục năm qua vẫn lầm tưởng là Trung Quốc cho Anh thuê Hong Kong 99 năm và trả lại cho Trung Quốc năm 1997. Nhưng có những sự thật bất ngờ về Hồng Kông mà không phải ai cũng biết.

Nói vắn tắt. Khu gọi là British Hong Kong trước đây chỉ gồm đảo Hong Kong (Hương Cảng) và Kowloon (Cửu Long). Ban đầu thì người Anh đã chiếm đảo Hong Kong sau cuộc chiến nha phiến lần thứ 1, khoảng 1842. Theo “điều ước Nam Kinh” (29/08/1842), Hong Kong thuộc Anh 100%, không phải thuê mượn.

Sau này người Anh lấy thêm khu Kowloon – gọi là Cửu Long – 1 trong những đô thị đông dân nhất của Hong Kong trong thế kỷ 20 – nơi tụ tập của văn hoá băng đảng mà chúng ta thấy trên phim Hong Kong. Theo “Công ước Bắc Kinh” (18/10/1860), đây là chiếm đứt, không có thuê mượn gì nhé.

Hong Kong và Cửu Long mới là 2 vùng phát triển của cái gọi là Quần thể Hong Kong ngày nay. Nơi tụ tập của siêu tư bản tài chính, 1 London thứ 2 (như cách gọi năm xưa), ăn chơi. Ai đã đi Hong Kong rồi thì biết.

Vậy vì sao Anh trả Hong Kong cho Trung Quốc? – “Thâm như Tàu

Vào năm 1898, người Anh nổi hứng đi thuê thêm 1 số vùng đảo lân cận, gộp chung là New Territories – hay còn gọi là Tân Giới, giáp với Đại Lục. Chính việc này mới có điều ước: Thuê Tân Giới 99 năm, trả 1997. Lúc này British Hong Kong được mở rộng về địa lý.

Bản đồ 3 vùng: Hong Kong, Cửu Long và Tân Giới
Bản đồ 3 vùng: Hong Kong, Cửu Long và Tân Giới

Khu này cư ngụ thảo khấu, hoặc là những người bất đồng chính kiến với chế độ lâm thời của Đại Lục, hoặc là chết đói chết khát trong nước…. Hán bơi sông để qua Hong Kong lập nghiệp kiếm miếng cơm (nghe quen quen không).

Tuy diện tích lớn, nhưng thực tế lại là nơi để các nhà máy, đơn vị điện nước, tụ tập của giai cấp công nhân (cộng sản)…. còn “siêu tư bản” và “ăn chơi” chỉ phát triển trong Hong Kong và Cửu Long.

Thế rồi, năm tháng trôi đi, 1997 đã đến. Người Anh phải trả lại Tân Giới cho Trung Quốc. Chứ không phải Hong Kong mà mọi người hiểu nhé. Thế tại sao, trả Tân Giới thì người Anh lại phải trả nốt cả Cửu Long và Hong Kong – vốn là Thuộc Anh, không có ký hợp đồng gì?

Đây có thể coi là “thâm như Tàu“. Khi phát triển Hong Kong, mọi trung tâm điện nước cấp phát cho toàn thể khu British Hong Kong…lại đều được đặt ở Tân Giới, nơi ở của giai cấp công nhân (cộng sản) gốc Hán. 1 nước đi cao tay trên ván cờ. Vì thế mà, Hong Kong và Cửu Long – 2 anh tư bản to bự này, chẳng thể tự tồn tại được nếu thiếu Tân Giới.

Chính vì thế, mà người Anh phải “Nhịn” – đành trao trả lại cả Hong Kong lẫn Cửu Long, nơi mà họ đã dồn tâm huyết phát triển cả kinh tế lẫn văn hoá tự do của Anh Quốc, tôn thờ Nữ Hoàng. Dù vẫn thòng điều khoản: 1 đất nước, 2 chế độ. Để mong vớt vát được Hong Kong và Cửu Long.

Ví dụ, Tân Giới chỉ cần ra lệnh: Cắt điện, cắt nước 1 phát – Hong Kong, Cửu Long sẽ chết. Đây chỉ là 1 lý do khá đơn giản. Có thể theo thuyết âm mưu thì sâu sa hơn. Nhưng ở đây tôi muốn nói ra cái sự thật, Anh chưa bao giờ thuê Hong Kong. Chỉ là trả lại cùng với Tân Giới.

Nam Le

Lịch sử thế giới

Sự cố Tây An 1936: Bước ngoặt của lịch sử Trung Quốc hiện đại

Sự cố Tây An gây chấn động thế giới lúc bấy giờ là cuộc binh biến bắt giữ Tưởng Giới Thạch tại Tây An do Trương Học Lương và Dương Hổ Thành thực hiện, nhằm gây áp lực buộc Tưởng hợp tác với Đảng Cộng sản chống Đế quốc Nhật Bản vào ngày 12 tháng 12 năm 1936, khi Tưởng đến Tây An.
73

Năm 1932, việc thành lập nhà nước bù nhìn Mãn Châu Quốc ở đông bắc Trung Quốc và Trận chiến ở Thượng Hải đã phản ánh rõ ràng ý định của Nhật Bản muốn xâm lược Trung Quốc. Bất chấp những dấu hiệu gây hấn này, nhà lãnh đạo Trung Quốc theo chủ nghĩa dân tộc Tưởng Giới Thạch vẫn tiếp tục tập trung phần lớn sức lực của mình vào việc thống nhất Trung Quốc. Đặc biệt tiêu diệt tận gốc ảnh hưởng của Cộng sản vốn chỉ còn ít tàn quân sau 5 chiến dịch hợp vây, trước khi ông có cơ hội chống lại người Nhật.

Ban lãnh đạo Cộng sản, đứng đầu là Chu Ân Lai, Mao Trạch Đông và những người khác, cũng có chung suy nghĩ. Họ không quan tâm nhiều đến những bước tiến của Nhật Bản, vì mỗi chiến thắng của Nhật Bản lại làm suy yếu lực lượng Quốc dân đảng thêm một chút, do đó giúp cho Cộng sản có thêm lợi thế.

Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai
Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai.

Vào thời điểm này, những người Cộng sản, bị coi không khác gì một lực lượng cướp, đang bị bao vây trong một khu vực hoang vắng ở Trung Quốc, sống sót chỉ vì Liên Xô (USSR) hỗ trợ đồng thời  bắt giữ con trai của Tưởng làm con tin ở thủ đô của Nga. Matxcơva, đã  ảnh hưởng nhằm ngăn quân Tưởng tung ra bất kỳ cuộc tấn công quyết định nào.

Nhà lãnh đạo Liên Xô Joseph Stalin có mục tiêu lâu dài là thành lập một chế độ bù nhìn ở Trung Quốc, nhưng trước mắt, ông ta ủng hộ phe Quốc dân vì quân của Tưởng là lực lượng duy nhất có cơ hội chống lại Nhật Bản. Nếu phe Quốc gia thất bại, Stalin lo sợ rằng Nhật Bản sẽ có thể dành toàn bộ bộ máy quân sự của mình trong một chiến dịch chống lại tham vọng của Nga ở châu Á.

Trương Học Lương,  một cựu lãnh chúa Trung Quốc có ảnh hưởng ở vùng đông bắc Trung Quốc và hiện là tướng trong Quân đội Trung Hoa Quốc dân Đảng, là người ủng hộ mặt trận Quốc dân-Cộng sản thống nhất chống lại sự xâm lược của Nhật Bản. Vì khuynh hướng này, ông đã bí mật tiếp xúc với những người Cộng sản bất chấp mối quan hệ với quân đội Quốc gia. Vào giữa năm 1936, ông ta tiếp cận giới lãnh đạo Cộng sản và đề xuất ý tưởng bắt cóc Tưởng  để buộc những người Quốc dân đảng tham gia thảo luận với Cộng sản. 

Mao hơn ai hết muốn nhìn thấy Tưởng bị giết để đạt được tham vọng cá nhân của mình, đã nói với Trương Học Lương để tiếp tục kế hoạch của mình, rằng Liên Xô cũng sẽ ủng hộ kế hoạch của ông, điều này thực tế là dối trá.

Vào ngày 22 tháng 10 năm 1936, tại Tây An, Trung Quốc, Tưởng công bố kế hoạch mới của mình để trấn áp những người Cộng sản. Trương và Trương Hổ Thành, một vị tướng cùng chí hướng, đã công khai phản đối chính sách mới, và trong tháng sau đó đã cố gắng thuyết phục Tưởng thay đổi ý định. Vào đầu tháng 12, họ quyết định rằng thời gian thảo luận đã kết thúc, và bây giờ là lúc thực hiện kế hoạch bắt cóc. Vào sáng sớm ngày 12 tháng 12, Cận vệ của Trương  đã mật kích vào nơi ở của Tưởng ở Tây An, nơi được canh phòng tương đối cẩn thận. Trong cuộc đối đầu ngắn ngủi, cháu trai và vệ sĩ của Tưởng là Jiang Xiaoxian đã bị giết ngay tại hiện trường, và Bộ trưởng Tuyên truyền Shao Yuanchong bị thương dẫn đến cái chết vài ngày sau đó. 

Một số đối thủ của Tưởng bắt đầu kêu gọi xử tử Tưởng vì những thất bại của ông trong việc đối phó với quân Nhật. Tưởng đã trốn vào khu rừng gần đó, chỉ mặc bộ quần áo ngủ vì vừa thức dậy khi kế hoạch được thực hiện, nhưng cuối cùng đã bị phát hiện và bắt giữ.

Vài giờ sau vụ bắt cóc, Trương đã công bố danh sách 8 yêu cầu đối với các nhà lãnh đạo chính trị Trung Quốc ở Trung Quốc và nước ngoài:

– Thành lập một chính phủ liên hiệp bao gồm cả các thành viên Quốc gia và Cộng sản

– Chấm dứt mọi cuộc giao tranh giữa các lực lượng Quốc gia và Cộng sản

– Trả tự do cho tất cả các chính trị gia đang bị giam giữ ở Thượng Hải

– Trả tự do cho tất cả các tù nhân chính trị

– Cho phép các cuộc biểu tình chống Nhật

– Đảm bảo quyền tự do chính trị cho mọi công dân Trung Quốc

– Chính quyền Trung Quốc tái tổ chức như thời Tôn Dật Tiên. 

– Tập hợp ngay lãnh đạo hai bên để bàn cách đối phó với sự xâm lược của Nhật

Ban lãnh đạo Đảng Quốc dân đảng đã bị chia rẽ, trong khi các phe phái cực đoan hơn trong Quốc dân đảng, cụ thể là Hội Áo xanh và phái Hoàng Phố, chuẩn bị quân đội tấn công Tây An để giải cứu Tưởng, một số người khác bắt đầu thảo luận về khả năng xử tử Tưởng vì không đối phó được với quân Nhật. Mặt khác, vợ của Tưởng, Tống Mỹ Linh, đã đích thân cử cố vấn người Úc, người trước đây đã làm việc dưới quyền Trương làm đại diện cá nhân cho các cuộc đàm phán vào ngày 14 tháng 12.

Những người cộng sản cũng bị chia rẽ. Trong khi Mao công khai kêu gọi hành quyết Tưởng, thì Chu Ân Lai và Trương Vệ Kiện nghĩ rằng danh tiếng của Tưởng sẽ bị tổn hại sau vụ việc này và ủng hộ kế hoạch thảo luận của Trương Xương Tiên (do đó cho phép một Tưởng đã suy yếu về chính trị vẫn là lãnh đạo Quốc dân đảng, ngăn cản một nhân vật có tiềm năng mạnh hơn bước lên).

Khi những người Cộng sản đang tranh luận trong nội bộ, Stalin gửi công văn can thiệp, ra lệnh cho Đảng Cộng sản Trung Quốc ngừng yêu cầu xử tử Tưởng và bắt đầu đàm phán. Hồng quân  TQ phụ thuộc vào Liên Xô nhanh chóng thừa nhận các yêu cầu của Liên Xô. Một phái đoàn Cộng sản đã được cử đi vào ngày 17 tháng 12.

Vào ngày 22 tháng 12, Mỹ Linh và anh trai đã đến Tây An để tham gia đàm phán.

Vào ngày 24 tháng 12, Trương đã cố gắng thiết lập một thỏa thuận tế nhị giữa Quốc dân Đảng và Đảng Cộng sản. Hai bên nhất trí đoàn kết trong cuộc chiến chống Nhật và đồng ý rằng Tưởng và các nhà lãnh đạo Quốc dân đảng khác đang bị bắt phải được trả tự do. 

Tưởng Giới Thạch và các thành viên cao cấp của Quốc dân đảng sau Sự cố Tây An
Tưởng Giới Thạch và các thành viên cao cấp của Quốc dân đảng sau Sự cố Tây An. Ảnh wikipedia.

Theo tiết lộ trong nhật ký của Tưởng, Tưởng nghĩ sự kiện này là giai đoạn nhục nhã nhất trong cuộc đời mình. Mặc dù ông có ít ảnh hưởng trong các cuộc đàm phán, nhưng phần lớn ông đã đồng ý ký vào các thỏa thuận, ngừng mọi hoạt động đàn áp chống lại những người Cộng sản cho đến khi Chiến tranh Trung – Nhật lần thứ hai kết thúc vào năm 1945. Tuy nhiên, trong suốt cuộc chiến, Tưởng vẫn làm suy yếu các nỗ lực của Cộng sản bất cứ khi nào có cơ hội; Hồng quân cũng làm như vậy trong cuộc chiến tranh chống Nhật.

Vào ngày 25 tháng 12, Trương đích thân hộ tống Tưởng trở về thủ đô Nam Kinh, nơi có rất đông người tụ tập để chào đón ông. Khi đến Nam Kinh, Trương bị bắt và bị xét xử vì tội phản quốc; trước sự khăng khăng của Tưởng, Trương đã bị xét xử tại một tòa án quân sự chứ không phải là một tòa án dân sự, điều này trên thực tế đảm bảo rằng Trương sẽ bị kết tội. Tuy nhiên, ngay sau phiên tòa, Tưởng đã ân xá cho Trương nhưng Tưởng sẽ quản thúc Trương vô thời hạn. Trương  bị quản thúc tại gia cho đến năm 1990 và qua đời vào năm 2001 mà không tiết lộ thêm bất kỳ chi tiết nào về động cơ đằng sau Sự cố Tây An, do đó đã nảy sinh một số thuyết âm mưu. Trong khi Trương bị quản thúc tại gia, Trương Hổ Thành bị đưa vào nhà tù. Khi những người Quốc dân Đảng đang đứng trước bờ vực thất bại trong cuộc nội chiến trước những người cộng sản Trương cuối cùng bị hành quyết theo lệnh của Tưởng Giới Thạch vào năm 1949, trước khi Quốc dân đảng rút về Đài Loan.

Trong lịch sử Trung Quốc hiện đại, sự cố Tây An thường được cho là có ba hậu quả chính. Về mặt ngắn hạn, liên minh Quốc Cộng miễn cưỡng đã cho người Trung Quốc một nền tảng vững chắc hơn, ít nhất là trên lý thuyết, để chống lại sự xâm lược của Nhật Bản vốn sẽ sớm leo thang trong vòng vài tháng. Hệ quả thứ hai là Đảng Cộng sản Trung Quốc, cho đến thời điểm này vẫn chỉ là một nhóm cướp, giờ đây đã được công nhận là một đảng chính trị đối lập hợp pháp, sẽ sớm được chính phủ Quốc dân đảng trao một phần lãnh thổ. Cuối cùng, sự cố Tây An đã cho những người Cộng sản thời gian và cơ hội để xây dựng sức mạnh của họ thành lực lượng mà một ngày nào đó sẽ thách thức những người Quốc dân Đảng trong một cuộc chiến toàn diện.

Huỳnh Nam Việt