Lịch sử Việt Nam

Thời Trịnh Nguyễn phân tranh và triều Tây Sơn, Đại Việt hay Việt Nam là quốc hiệu nước ta?

Thời nhà Đinh, nước ta là Đại Cồ Việt, sang thời Lý là Đại Việt và kéo dài 723 năm bao gồm cả thời nhà Lê, thời Trịnh Nguyễn phân tranh, triều Tây Sơn và 3 năm đầu nhà Nguyễn. Năm 1804, vua Gia Long Nguyễn Ánh mới đổi thành nước Việt Nam.
94

Thực ra, trong các tài liệu về lịch sử Việt Nam mình ghi chép từ thời Trịnh Nguyễn phân tranh đã không hay thấy dùng quốc hiệu Đại Việt nữa mà chỉ gọi là Đàng Trong – Đàng Ngoài hay Bắc Hà – Nam Hà (từ này ít dùng, không phổ biến như Bắc Hà). Người nước ngoài còn gọi luôn là vương quốc Đàng Trong, Đàng Ngoài. Tuy nhiên, vì không có vua Lê nào chính thức đổi quốc hiệu nên đất Đàng Ngoài vẫn coi như có quốc hiệu chính thức là Đại Việt.

Đất Đàng Trong bản chất là độc lập với Đàng Ngoài, chúa Nguyễn chỉ lấy tiếng là phò Lê diệt Trịnh nên không dám xưng đế. Thời kỳ này giống thời Tam Quốc bên Trung Quốc khi cả nước Ngụy, Thục, Ngô đều là đất nhà Hán nhưng thực tế 3 nước này độc lập với nhau và vua Hán chỉ là bù nhìn. Nhưng Đàng Trong – Đàng Ngoài lại khác Tam Quốc ở chỗ là Đàng Trong chỉ có 1 phần rất nhỏ là gốc của Đại Việt, là đất Quảng Nam, mà thực chất cũng là đất mà Đại Việt mới chiếm của Chiêm Thành, còn rừng thiêng nước độc. Còn từ Quảng Nam vào đất Hà Tiên (gồm cả Cà Mau bây giờ) là đất “mở cõi” của chúa Nguyễn, chả liên quan gì đến Đại Việt cả. Vì thế nên coi Đàng Trong là Đại Việt thì rất khiên cưỡng. Khác với thời Tam Quốc thì 3 nước kia đều là đất của nhà Hán cũ.

Đến khi Tây Sơn nổi lên, họ chiếm 1 vùng đất của Đàng Trong, nên càng không thể coi là Đại Việt được. Đại Việt chỉ có tới Nghệ An mà thôi. Chính vì đất Đàng Trong không phải là đất gốc của Đại Việt (Đàng Ngoài) nên khi chúa Trịnh Sâm đánh Đàng Trong, chiếm được Phú Xuân rồi thì dừng lại, không đánh tiếp vào chiếm Gia Định (Nam Kỳ sau này) mà chấp nhận để cho Tây Sơn về hàng để diệt chúa Nguyễn thay mình.

Đến khi Trịnh Sâm chết, Tây Sơn chiếm được hết đất Đàng Trong, rồi đánh ra Thăng Long, diệt chúa Trịnh Khải, thì bản chất là Đàng Trong đánh ra Đàng Ngoài. Nhưng vì sợ cái tiếng cướp ngôi nên Nguyễn Huệ không dám lật vua mà lại rút về Nam. Lúc đó đất Đàng Trong chia làm 3 do 3 anh em Tây Sơn chiếm giữ cát cứ gần như độc lập với nhau và cũng độc lập với Đàng Ngoài (Đại Việt) của vua Lê. Mình nói là độc lập bởi vì chính vua Lê Chiêu Thống cắt đất Nghệ An để tặng cho Nguyễn Huệ vì cái công diệt Trịnh phò Lê. Nếu vẫn cùng 1 nước thì cắt đất ban thưởng làm quái gì. Đất đó Nguyễn Huệ giao cho Nguyễn Hữu Chỉnh trấn thủ.

Năm 1788, Nguyễn Huệ lên ngôi hoàng đế, lấy niên hiệu Quang Trung trước khi đánh ra Bắc, diệt quân Thanh, thì không rõ là hoàng đế nước nào? Bởi vì trung ương hoàng đế là Nguyễn Nhạc vẫn còn đấy, Nguyễn Lữ cũng là 1 vua khác thì vừa bị Nguyễn Ánh chiếm lại Gia Định, đất Đại Việt thì vẫn chưa chiếm được tuy có bảo hộ (bởi Ngô văn Sở và Ngô Thì Nhậm), vua Lê Chiêu Thống vẫn còn đó nhưng chạy dạt sang Bắc Ninh.

Sau khi đại phá quân Thanh, nhà Tây Sơn (chính xác thì chỉ là Nguyễn Huệ đánh quân Thanh thôi chứ Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ không liên quan) thôn tính luôn Đàng Ngoài (Đại Việt) của vua Lê thì Nguyễn Huệ mới thực sự là vua nước Đại Việt. Nhà Tây Sơn lúc đó có 2 vùng đất, 1 của Quang Trung là đất Đại Việt vào đến Phú Xuân, 2 là đất của vua Nguyễn Nhạc đóng đô ở Quy Nhơn, còn vùng thứ 3 là Gia Định (Nam Kỳ) vẫn thuộc về Nguyễn Ánh! Như vậy cương vực của Đại Việt lúc đó đến đâu? Mình cho là chỉ đến Phú Xuân mà thôi.

Chính vì lẽ đó mà khi Gia Long thống nhất đất nước, bản chất là Đàng Trong thôn tính Đàng Ngoài, xóa bỏ nhà Tây Sơn (trước đó nhà Tây Sơn xóa bỏ nhà Lê), thì mới đổi quốc hiệu thành Việt Nam. Như vậy, Nguyễn Ánh đã ngầm phủ định cái gốc Đại Việt của mình rồi, nên mới đổi tên Quốc Hiệu Việt Nam.

Xem thêm: Nguyễn Ánh trả thù nhà Tây Sơn, “cõng rắn cắn gà nhà”? và hai tiếng Việt Nam

Văn hóa Việt Nam

Kho tài liệu quý hiếm về Việt Nam trong Hội Thừa Sai Paris

Hiện viện Nghiên Cứu Pháp - Châu Á, đang lưu giữ rất nhiều tài liệu của Hội Thừa Sai Paris, trong đó có kho tài liệu quý hiếm về Việt Nam.
6

Alexandre de Rhodes và Hội Thừa Sai Paris

Có thể nói linh mục Alexandre de Rhodes là người đóng vai trò lớn trong mối liên hệ giữa Hội Thừa Sai Paris và Việt Nam. Cuốn Phép giảng tám ngày (Cathéchimus / Cathéchisme) của Alexandre de Rhodes, xuất bản vào thế kỷ XVII, cùng với nhiều tác phẩm quý khác, được Viện tự hào trưng bầy trong tủ kính đặt ngay lối vào chính ở phố Babylone.

Bà Marie-Alpais Dumoulin, giám đốc Viện IRFA, cho biết đây chỉ là một vài mẫu nhỏ được trưng bày nhân lễ khánh thành Viện vào tháng 01/2020.

“Linh mục Alexandre de Rhodes là người khởi xướng sáng lập Hội Thừa Sai Paris vì ông là người thỉnh cầu Tòa Thánh Roma thành lập một hội truyền giáo mới biết rõ các ngôn ngữ bản địa và có thể truyền giáo bằng những kiến thức văn hóa bản địa.

Linh mục Alexandre de Rhodes truyền giáo ở Việt Nam và bản thân ông là một người biết rất rõ ngôn ngữ ở Việt Nam lúc đó. Linh mục Alexandre de Rhodes là người tiếp tục công việc của các linh mục truyền giáo trước đó, có nghĩa là ghi theo bảng chữ cái la tinh tiếng nói của người Việt, sau này được gọi là quốc ngữ. Chính linh mục Alexandre de Rhodes là người cho in cuốn Dictionnaire annamite-portugais-latin. Tại sao lại là La tinh và Bồ Đào Nha? Vì la tinh là ngôn ngữ của Giáo Hội, còn Bồ Đào Nha là tiếng của những tu sĩ dòng Tên, truyền giáo trong khu vực vào thế kỷ XVII.

Sau cuốn từ điển đó, Alexandre de Rhodes in thêm cuốn Phép giảng kinh tám ngày (Cathéchisme) bằng tiếng Việt. Cuốn Phép giảng kinh này rất được chú ý trong bộ sưu tập của chúng tôi vì trong ít nhất hai thế kỷ sau đó, rất nhiều linh mục truyền giáo, được cử sang Việt Nam, đã sử dụng cuốn giảng kinh đó.”

Những tài liệu quý hiếm về dân tộc thiểu số Việt Nam

Viện IRFA chỉ có thể tiếp khoảng 10 độc giả mỗi ngày, một phần do diện tích phòng đọc khá nhỏ, nhưng lý do chính là Viện muốn bảo đảm môi trường nghiên cứu thuận lợi nhất, phục vụ chu đáo nhất nhu cầu tài liệu của độc giả, có nhiều thời gian với mỗi độc giả để hướng họ đến những tài liệu liên quan.

Ngay lối vào chính của Viện IRFA là cầu thang dẫn lên tầng 1, nơi có kho lưu trữ tài liệu viết tay của các nhà truyền đạo Hội Thừa Sai Paris, có khối lưu trữ dài khoảng 513 mét. Kho được chia thành hai khu vực: khu vực bảo quản tài liệu và phòng đọc.

Toàn bộ tài liệu lưu trữ được xếp trên các giá, xê dịch được nhờ hệ thống đường ray và để tiết kiệm diện tích, được xếp theo từng nước và tên nhà truyền giáo.

Tài liệu về Việt Nam nằm từ dãy 28 đến dãy 32. Và nếu tôi mở từng dãy, chúng ta sẽ thấy là mỗi dãy có rất nhiều tài liệu ở trong. Lưu trữ về những nhiệm vụ ở Việt Nam có từ thời những nhà sáng lập Hội Thừa Sai Paris, có nghĩa là từ những năm 1670.

Ví dụ ở dãy này, khi mở ra, chúng ta thấy những hộp đựng tài liệu lưu trữ của địa hạt giám mục Kon Tum, được thành lập từ những năm 1930. Chưa đầy một thế kỷ mà chúng tôi đã có nhiều tài liệu như thế này về Kon Tum, vì địa hạt giám mục Kon Tum được một giám mục của Hội Thừa Sai Paris quản lý cho đến năm 1975 vì thế, tất cả tài liệu lưu trữ được chuyển về đây. Điều này cũng cho thấy mong muốn mở rộng việc truy cập những tài liệu này, bởi vì tài liệu lưu trữ ở Kon Tum liên quan thực sự đến lịch sử Việt Nam và lịch sử Giáo Hội Việt Nam. Vì vậy, nhiệm vụ của chúng tôi là để độc giả có thể truy cập được những tài liệu này.”

Bà Marie-Alpais Dumoulin đã chuẩn bị một chiếc hộp nhỏ bằng gỗ, hình chữ nhật dài khoảng 40 cm và rộng khoảng 10 cm, để giới thiệu. Bên ngoài ghi Danh mục về dân tộc, thực vật của Jacques Dournes (1922-1993), một linh mục và là nhà nhân chủng học nổi tiếng về dân tộc Sré và Gia Rai ở Việt Nam.

“Jacques Dournes, linh mục của Hội Thừa Sai Paris, đã sống hơn 30 năm ở Việt Nam, cùng với người dân tộc Sré (thuộc dân tộc Cơ Ho) và người Gia Rai (Jörai) ở vùng tây nguyên. Ông rất thích văn hóa Gia Rai và ông hiểu ra rằng để có thể hiểu được rõ văn hóa Gia Rai, ông phải biết được thế giới của họ. Và để hiểu được thế giới đó thì phải biết được cả thế giới thực vật và để làm được điều này, như chính ông nói, phải đi chân trần, cùng họ đi khám phá những loài thực vật.

Điều lý thú ở đây là việc thu thập những tên cây cỏ đã mang lại kết quả là vào năm 1969, Jacques Dournes cho xuất bản cuốn sách Bois Bambou (Gỗ, Tre). Tên sách thể hiện rõ thế giới thực vật biểu tượng của người Gia Rai. Ông giải thích rõ là ông không nghiên cứu cụ thể từng loài cây để viết một cuốn từ điển chuyên biệt mà là để hiểu rõ hơn làm thế nào thế giới thực vật lại hòa nhập với thế giới văn hóa nói chung của người Gia Rai.”

Bên phía phòng đọc, Brigitte, người quản lý kho lưu trữ, chuẩn bị tài liệu và hướng dẫn cho một độc giả nghiên cứu về tiểu sử một nhà truyền đạo thuộc Hội Thừa Sai Paris, tử vì đạo ở Triều Tiên.

“Brigitte cung cấp dần dần cho tôi những tài liệu, bản thảo của vị thánh tử vì đạo. Tôi cũng được bà phụ trách thư viện giúp tìm một số đầu sách có trong thư viện. Ngoài ra, nhờ Brigitte giúp đỡ, tôi còn đọc được các bản chụp phim (microfiche) những tài liệu mà không thể truy cập được tài liệu gốc.

Trước khi lên Paris, tôi viết thư cho Brigitte để bà ấy cho một vài hướng dẫn và chuẩn bị trước những tài liệu mà tôi yêu cầu. Tôi có thể giữ chúng tại phòng đọc trong vòng 24 hoặc 48 tiếng. Đó là khoảng thời gian tôi lưu lại Paris, bởi vì tôi không thể đọc được hết một lần.

Tôi đánh giá rất cao về mức độ nhanh chóng, khả năng đối thoại, trao đổi với nhân viên của Viện, tiếp theo là việc tài liệu được đặt trước được chuyển đến người đọc rất nhanh. Tôi đánh giá cao sự hỗ trợ của Viện IFRA.”

Thư viện với hơn 1.000 đầu sách về Việt Nam

Để đi sang thư viện, độc giả sẽ phải đi qua một khoảng sân rộng. Phòng đọc nhỏ xinh ở tầng trên cùng của tòa nhà chỉ có thể tiếp được hai độc giả cùng lúc.

Bà Annie Salavert, phụ trách thư viện, cho biết kho sách liên quan đến Việt Nam được phân chia và lập danh mục trực tuyến vào năm 2017.

“Một nữ nghiên cứu sinh Việt Nam chuyên về ngôn ngữ Việt Nam đã giúp tôi trong suốt một năm. Cô ấy đã lập được danh sách hơn 1.000 đầu sách bằng nhiều ngôn ngữ ở Việt Nam, trong đó hơn một nửa là tiếng Việt. Phần còn lại được viết bằng những ngôn ngữ của các dân tộc thiểu số ở cao nguyên. Và đây chính là điểm đặc biệt của Hội Thừa Sai Paris và là sự đa dạng của Viện Nghiên Cứu Pháp – Châu Á. Về điểm này, cần phải nhấn mạnh đến công trình của linh mục Jacques Dournes.

Ngoài ra, trong số các tài liệu, sách bằng tiếng Pháp, phải kể đến những công trình nghiên cứu của linh mục Léopold Cadière, đặc biệt là cuốn kỉ yếu Những Người bạn của Huế xưa (Bulletin des Amis du Vieux Huế). Ông là giám đốc, kiêm chủ biên của kỉ yếu từ năm 1914 đến năm 1944. Bộ sưu tập những số của tạp chí đó là một gia tài quý giá, và dĩ nhiên là một kho báu đối với IRFA.”

Tập kỷ yếu Bulletin des Amis du Vieux Huế (Những người bạn của Huế xưa) do cha L. Cadière làm giám đốc, kiêm chủ biên, IRFA, Paris, 16/01/2020
Tập kỷ yếu Bulletin des Amis du Vieux Huế (Những người bạn của Huế xưa) do linh mục L. Cadière làm giám đốc, kiêm chủ biên, IRFA, Paris, 16/01/2020. (Ảnh RFI)

Bà Annie Salavert nhận xét kho sách Việt Nam trong Hội Thừa Sai Paris, cũng như những kho sách bằng nhiều ngôn ngữ châu Á khác có vai trò rất quan trọng.

“Những tác phẩm trong kho sách tiếng Việt được đưa về Hội Thừa Sai Paris nhờ các nhà truyền giáo. Chúng tôi cũng đã bị mất nhiều bộ sưu tập lớn ở Việt Nam khi các linh mục phải rời Đông Dương, lúc đó có rất nhiều linh mục chỉ có mỗi cuốn Kinh Thánh trong túi. Thật đáng tiếc là nhiều tủ sách của các linh mục ở Việt Nam đã bị thất lạc. Lẽ ra chúng tôi đã có nhiều hơn là 1.000 cuốn sách. Tôi rất tiếc nhưng chúng tôi cũng lưu được nhiều vết tích của nhà in Quy Nhơn, cũng như một số nhà in khác, mà Viện sẽ còn có nhiều việc phải làm.”

Tất cả các tác phẩm trong thư viện của IRFA đều có thể truy cập trên trang web của Viện. Một điều dễ chịu khác là độc giả đến tận nơi, có thể được tận hưởng bầu không khí yên bình lạ thường giữa lòng Paris và được chiêm ngưỡng công trình kiến trúc độc đáo của nhà thờ Chapelle de l’Epiphanie có từ thế kỷ XVII.

Nguồn: rfi.fr

Lịch sử Việt Nam

Giải độc tin đồn năm 2020 về mật ước “Hội nghị Thành Đô”

Thực sự có hay không một cái gọi là mật ước Thành Đô mà qua đó cho phép biến Việt Nam thành một khu tự trị của Trung Quốc trong bài viết này chúng ta sẽ cùng đi tìm hiểu và làm rõ.
68

Những tin đồn về mật ước Thành Đô

Năm 2010, trên internet lan truyền tin giả kể rằng WikiLeaks công bố “tài liệu tuyệt mật” cho biết, đến năm 2020, Việt Nam sẽ trở thành “khu tự trị” của nước ngoài. Dù sau đó người đưa ra tin giả này khẳng định đây chỉ là bịa đặt, thì đến nay, các thế lực thù địch và một số tổ chức, cá nhân thiếu thiện chí vẫn sử dụng để vu khống Đảng, Nhà nước Việt Nam. Và đáng tiếc, một số người đã tin theo, rồi có phát ngôn, hành động thiếu chín chắn…

Trước hết để tiện cho các bạn theo dõi chúng ta cùng tóm tắt hội nghị Thành Đô, cho đến năm 1989 xung đột biên giới Việt-Trung đã kéo dài 10 năm sau một thời gian được vận động hành lang lãnh đạo cấp cao trung quốc là Giang Trạch Dân và Lý Bằng đã gửi lời mời Tổng bí thư và Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng của Việt Nam là Nguyễn Văn Linh và Đỗ Mười sang Trung Quốc bí mật tiếp xúc cấp cao để bàn việc bình thường hóa quan hệ và bàn việc xử lý vấn đề Campuchia.

Trung Quốc lấy lý do là đang Đại hội Thể thao châu Á tổ chức ở Bắc Kinh nên chuyển địa điểm tiếp xúc cấp cao sang thành phố Thành Đô của tỉnh Tứ Xuyên, ngày mùng 3 và mùng 4 tháng 9 tại khách sạn Kim Ngưu thành phố Thành Đô, lãnh đạo cấp cao của Trung Quốc gồm tổng bí thư Giang Trạch Dân và Thủ tướng Lý Bằng đã tiếp xúc với lãnh đạo cấp cao Việt Nam gồm Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh, Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng Đỗ Mười và cố vấn Ban chấp hành Trung ương Phạm Văn Đồng.

Nội dung cụ thể của hội nghị Thành Đô đến nay chưa được công bố nhưng trên mạng internet thì có khá nhiều đồn đoán nói rằng trong Hội nghị Thành Đô Trung Quốc cho Việt Nam “30 năm để chuẩn bị các công việc nhằm đưa Việt Nam đến năm 2020 trở thành một khu tự trị của Trung Quốc”. Mình sẽ diễn dẫn 2 bài viết từ thành phần chống Cộng và chứng minh nó chỉ là bịa và rất mâu thuẫn.

Một trang blog có tên là dân chúng làm báo của tác giả Lê Duy San , trong bài viết nói rằng “Đảng Cộng Sản Việt Nam xin được làm một khu tự trị trực thuộc Bắc Kinh. Wikileaks xác định văn kiện đó là một trong 3,100 bức điện thư lưu trữ tại Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ (!?) “

Hai là chính bài viết của Lê Duy San trích dẫn thêm một bài viết khác của tác giả Huỳnh Tâm trên blog Dân làm báo nói rằng hội nghị Thành Đô phía Việt Nam đã chấp nhận 5 quy ước gồm: “Xác định chủ quyền vùng đảo Bạch Long Vĩ và Vịnh Bắc Bộ, núi Lão Sơn thuộc về TQ, xác định chủ quyền biên giới Trung-Việt từ đất liền đến Biển Đông, Áp đặt luật pháp Trung Quốc vào Việt Nam, kế hoạch đưa quân đội Trung Quốc vào Việt Nam.” (!?)

Trong bối cảnh tình hình biển đông liên tục căng thẳng các tin đồn này được đưa lên mạng đã gây không ít hiệu ứng những người ít hiểu biết về tình hình chính trị Việt Nam thì cảm thấy sốc và có thể trở nên căm giận, những người có niềm tin nhưng nếu chưa từng được biết cụ thể hội nghị Thành Đô bàn bạc điều gì thì cũng dễ hoang mang trong lòng.

Các ông Nguyễn Văn Linh và Đỗ Mười là nhân chứng của Hội nghị Thành Đô. Bên trái là Đại tướng Võ Nguyên Giáp
Các ông Nguyễn Văn Linh và Đỗ Mười là nhân chứng của Hội nghị Thành Đô. Bên trái là Đại tướng Võ Nguyên Giáp

Đối chiếu thông tin của hai bài blog này chúng ta đã thấy mỗi người nói mỗi khác, ông Lê Duy San kêu là Việt Nam xin làm khu tự trị của Trung Quốc và Trung Quốc đã đồng ý cho Việt Nam 30 năm để chuẩn bị đến năm 2020 sẽ sát nhập trong khi đó ông Huỳnh Tâm lại phán rằng ông Nguyễn Văn Linh ký kết năm điểm như vừa nói ở trên, đặt ngược lại câu hỏi rằng nếu lời ông Lê Duy Tân là đúng thì cần gì phải ký kết năm điểm như lời ông Huỳnh Tâm nói bởi vì đã nhận là khu tự trị thì cần gì phải phân định cắm mốc biên giới trên bộ và trên biển, đã xin tự trị tức là đem cả nước dâng nộp thì cần gì phải thừa nhận một cái núi Lão Sơn cỏn con là lãnh thổ Trung Quốc.

Do đó đủ thấy hai bài viết của Lê Duy Tân và Huỳnh Tâm là thiếu cơ sở mà có khi cũng chỉ là suy diễn hoặc thậm chí là địa đặt, nhìn sang các sự kiện gần đây như sự kiện giàn khoan năm 2014 nếu có chuyện Việt Nam đồng ý với năm 2020 sáp nhập vào Trung Quốc chỉ cần gì Trung Quốc phải vội vàng mang giàn khoan với hơn 100 cái tàu to tàu nhỏ sang đặt cách bờ biển Việt Nam chỉ vài chục hải lý để nắn gân Việt Nam xem mềm hay cứng , nếu chắc chắn chỉ còn sáu năm nữa toàn bộ đất nước Việt Nam gồm cả đất liền và hải đảo là của Trung Quốc hết rồi thì năm 2014 cần gì Trung Quốc phải hao tâm tổn trí như vậy.

Về phía Việt Nam nếu năm 1990 đã ký mật ước đồng ý đến năm 2020 làm khu tự trị của Trung Quốc thì cần gì phải mua sắm máy bay, tàu ngầm, tàu chiến của Nga và hiện nay đang đàm phán khắp nơi để mua bán các loại vũ khí phòng thủ đất nước, rồi tình báo Mỹ vốn được tiếng là ở chỗ nào cũng đánh hơi được chẳng lẽ không biết Việt Nam mấy năm nữa thuộc Trung Quốc rồi mà vẫn còn nới bỏ cấm vận Việt Nam và còn định bán vũ khí cho Việt Nam thì há chăng chẳng phải là dại dột, bằng cách đặt ngược lại câu hỏi một chút như vậy chúng ta cũng đã thấy có nhiều điều vô căn cứ.

Vậy rốt cuộc hiệp ước Thành Đô bàn về cái gì?

Chúng ta hãy đi tìm câu trả lời trong chính thông tin của những nhân chứng lịch sử, đó là những người trong cuộc cho đến thời điểm hiện nay trong số những lãnh đạo cấp cao thời kỳ đó chỉ mới có thứ trưởng ngoại giao Trần Quang Cơ là đã công bố hồi ký của mình, trong Hồi ký Trần Quang Cơ. Ông cho biết kết quả hội nghị Thành Đô là một bản tóm tắt 8 điểm trong đó có đến 7 điểm nói về vấn đề Campuchia và chỉ có 1 điểm nói về quan hệ Việt – Trung .Cố thứ trưởng ngoại giao Trần Quang Cơ cho biết sau hai ngày nói chuyện kết quả được ghi lại trong một văn bản gọi là biên bản tóm tắt gồm 8 điểm và có tới 7 điểm nói về vấn đề Campuchia chỉ có một điểm nói về cải thiện quan hệ giữa hai nước mà thực chất chỉ là nhắc lại lập trường cũ của Trung Quốc gắn việc giải quyết vấn đề Campuchia với vấn đề bình thường hóa quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc.

Để rõ hơn về hội nghị này mới các bạn đọc thêm trong chương 13 và chương 14 của hồi ký Trần Quang Cơ sẽ hiểu hơn, xin nói thêm thứ trưởng Trần Quang Cơ là một cán bộ cấp cao và thời kỳ đó thường được nghe dự thính các cuộc họp của Bộ Chính trị Việt Nam, thậm chí đến đại hội 7 của Đảng, ông còn được xem xét lên thay Bộ Trưởng Ngoại Giao Nguyễn Cơ Thạch nhưng ông lấy lý do già yếu nên xin nghỉ. Bởi thế ông Trần Quang Cơ có tư cách là người trong cuộc những điều ông nói về nội dung hội nghị Thành Đô là điều có thể tin được.Thứ trưởng Trần Quang Cơ đã chỉ rõ trong Hội nghị Thành Đô thì nội dung chỉ gồm tám điểm trong đó 7 điểm bàn về vấn đề Campuchia và một điểm nói về việc bình thường hóa quan hệ Việt – Trung do đó có thể nói một cách khẳng định rằng hoàn toàn không có chuyện đến năm 2020 Việt Nam trở thành khu tự trị của Trung Quốc như một số người rêu rao trên mạng.

Giải độc tin đồn năm 2020 Việt Nam sáp nhập vào Trung Quốc
Giải độc tin đồn năm 2020 Việt Nam sáp nhập vào Trung Quốc

==================

* Bài viết được mình hiệu chỉnh và tổng hợp từ báo Nhân Dân và bản tin của kênh VNYoutuber
** Mình search google keyword Hội nghị Thành Đô thì ngoài wikipedia và báo Nhân Dân thì còn lại toàn tin “lề trái”. Tìm trong fnew cũng chưa thấy bài nào nói về vấn đề này nên mong đây sẽ là tư liệu phản biện về cái gọi là “Hiệp ước Thành Đô”.

Phạm Hòa

Văn hóa Việt Nam

Làm gì để bảo vệ “Quốc Phục” Việt Nam?

Gần đây bên Trung Quốc có nhiều nhà thiết kế, những show diễn mặc áo y hệt như Áo dài của Việt Nam, họ còn giải thích là Áo sườn xám cách tân. Họ đạo nhái đã đành lại còn nói là áo của họ cách tân, nói láo một cách trắng trợn.
64

Thời gian vừa qua, sở Văn Hoá Thể Thao TT – Huế đã triển khai cán bộ mặc Áo dài nơi công sở, bên cạnh những lời khen thì vẫn có rất nhiều ý kiến trái chiều, họ chê “rảnh quá bày ra chuyện ra để làm, trở về thời đồ đá, mặc áo dài vướng bận sao làm việc, nhảm nhí, trò hề, lố bịch”…vv,

Khi một ngành văn hoá đang tìm cách nghiên cứu để bảo tồn giá trị văn hoá, di sản mà thế hệ trước để lại thì bị phản đối, chê bai một cách thậm tệ, cổ nhân thường có câu “Văn hoá là quốc hồn quốc tuý” của một dân tộc, việc bảo tồn giá trị áo dài & đang tìm Quốc Phục cho Việt Nam là một việc làm đúng đắn tại sao lại bị phản đối.!

Làm gì để bảo vệ “Quốc Phục” Việt Nam?
Làm gì để bảo vệ “Quốc Phục” Việt Nam?

Không biết vì nguyên nhân gì mà thời gian gần đây, bên TQ có nhiều nhà thiết kế, những show diễn mặc áo y hệt như Áo dài của Việt Nam, họ còn giải thích là Áo sườn xám cách tân, họ đạo nhái đã đành còn nói là áo của họ cách tân, nói láo một cách trắng trợn. Những mẫu áo đó giống y hệt Áo dài Việt Nam sao ko thấy những kẻ ném đá áo dài Việt, những kẻ chê bai sở VHTT TT – Huế vào xem nhỉ, hay là lặn mất tăm..!

Những năm gần đây, chiếc Áo dài của Việt Nam khá nổi tiếng & được công chúng yêu thích, kể cả người nước ngoài cũng vậy, liệu có thuyết âm mưu nào chăng..?, họ muốn biến trang phục truyền thống của mình thành của họ, thiết nghĩ các cấp ban ngành cần phải vào cuộc, người dân cần lên án mạnh mẽ điều này, có như vậy mới bảo vệ được “Quốc Phục” của Việt Nam nói riêng và văn hóa dân tộc nói chung.

Hình ảnh áo dài nơi công sở
Hình ảnh áo dài nơi công sở.

Hiện nay, tại Huế đang chuẩn các hội nghị, hội thảo nghiên cứu bảo tồn & phát huy chiếc áo dài truyền thống Việt Nam, sắp tới sẽ có chương trình “HUẾ KINH ĐÔ ÁO DÀI VIỆT NAM” và các sở ban ngành đang hoàn thiện hồ sơ đề nghị Bộ VHTTDL công nhận Áo dài Huế là di sản văn hoá phi vật thể cấp quốc gia, tiến tới đệ trình lên UNESCO công nhận Áo dài Huế là Di sản văn hoá phi vật thể của Thế giới…!

Chỉ có cách bảo tồn & phát huy gia trị Áo dài, được UNESCO công nhận thì chúng ta mới yên tâm ko bị đạo nhái, không bị anh hàng xóm “Ăn cắp” thôi, vì vậy mình ủng hộ việc các sở ban ngành mặc Áo dài & Áo Ngũ thân nơi công sở, trong lễ chào cờ sáng thứ 2 đầu tiên của tháng…!

Xem thêm: Những kiểu trang phục phổ biến trong lịch sử Việt Nam và các quốc gia đồng văn

Lịch sử Việt Nam

Người Campuchia ghét Việt Nam?

Việt Nam "giải phóng" hay "xâm lược" Campuchia? Người Campuchia "ghét" Việt Nam? Là những chủ đề mà mấy năm gần đây được giới trẻ Campuchia và Việt Nam tranh cãi, thậm chí gây hấn, xúc phạm nhau trên mạng xã hội. Vậy sự thật thế nào? Mời các bạn cùng thảo luận với Khám Phá Lịch Sử nhé.
4

Góc nhìn của cố Quốc vương Campuchia Norodom Sihanouk

Chính trị vốn phức tạp hơn nhiều so với những tuyên bố ngoại giao nhất thời. Sihanouk là một ví dụ điển hình.

Cố gắng trung lập rồi bị lật đổ bởi Lon Nol (chế độ thân Mỹ), ông quay sang hợp tác cùng Khmer Đỏ (lúc này ủng hộ Việt Nam đánh Mỹ) và nhận trợ giúp từ Việt Nam và Trung Quốc.

Khmer Đỏ cầm quyền, ông trở thành tù nhân không tuyên bố, họ hàng bị Khmer Đỏ giết, bị sỉ nhục, ngồi nghe radio hóng nước nào đó sẽ mang quân đến cứu nước mình. Chỉ mỗi Cuba tố cáo, và chỉ mỗi Việt Nam đã đến.

Khmer Đỏ ép ông đến Liên Hiệp Quốc vung vít tố cáo Việt Nam xâm lược. Tuyên bố xong thì ông nhờ cựu thù Mỹ giúp trốn khỏi tay Khmer Đỏ ngay tại New York.

Ông xin sang Pháp tị nạn thì Pháp cho, nhưng cấm ông đến đó để hoạt động chính trị. Không chấp nhận, ông đến Trung Quốc là nơi ông gọi là “Tổ quốc thứ hai“. Nhưng ông từ chối gợi ý của Trung Quốc về việc hợp tác lại với Khmer Đỏ, kẻ mà ông căm ghét nhưng lại đang được Trung Quốc bảo trợ.

Căm ghét ít lâu, ông lại cộng tác cùng Khmer Đỏ để tiếp tục rủa xả Việt Nam xâm lược.

Quân Khmer Đỏ
Quân Khmer Đỏ

Đến khi Heng Samrin (cựu thủ lãnh Khmer Đỏ, sau chống lại Polpot và sang Việt Nam nhờ hỗ trợ, cùng với 150.000 quân tình nguyện quay về tiêu diệt Khmer Đỏ, trở thành Lãnh tụ Đảng nhân dân cách mạng Campuchia) đủ mạnh để khống chế các phe phái ở Campuchia… Việt Nam rút quân theo quy ước đã bàn trước đây. Sihanouk về nước làm vua, đến lễ lạt ngoại giao lại cảm ơn bạn Việt Nam đã giải phóng cứu thoát khỏi diệt chủng.

Mời các bạn đọc Hồi ký Sihanouk, để biết rõ: “Việt Nam đã nhân nhượng, nhưng Khmer Đỏ càng lấn tới ngay từ khi chúng còn chưa cầm quyền; và Sihanouk đã hóng gì trong những ngày đen tối nhất dưới tay Khmer Đỏ – ông không một lời đổ lỗi cho Việt Nam, không oán trách 10 năm Việt Nam có mặt tại Campuchia bởi ông hiểu rõ không có 10 năm đó thì ngai vàng của ông sẽ không bền lâu, Campuchia sẽ không bao giờ hòa bình thực sự”.

Cũng trong hồi ký này quốc vương Campuchia cũng bày tỏ sự kính trọng đối với những nhà lãnh đạo cao cấp của Việt Nam. Ông ca ngợi Chủ tịch Hồ Chí Minh là “công dân của Đông Dương, của châu Á và thậm chí là thế giới”. Thủ tướng Phạm Văn Đồng là “một con người thông minh và nhạy cảm nhất” và Đại tướng Võ Nguyên Giáp là một vị tướng thiên tài, là nhà chiến lược vĩ đại nhất trong thời đại của chúng ta, và là một trong những nhà chiến lược vĩ đại nhất của mọi thời đại”.

Việt Nam đã nhân nhượng, nhưng Khmer Đỏ càng lấn tới ngay từ khi chúng còn chưa cầm quyền.

– Cố Quốc vương Campuchia Norodom Sihanouk

Cuộc chiến của tôi với CIA - Hồi ký của Hoàng thân Norodom Sihanouk
Cuộc chiến của tôi với CIA – Hồi ký của Hoàng thân Norodom Sihanouk

Mời các bạn tải về Hồi ký của Hoàng thân Norodom Sihanouk

Góc nhìn của Sok Touch – người từng là thành viên của Khmer Đỏ

Sok Touch, Chủ tịch Viện Hàn lâm Hoàng gia Campuchia khi còn là cậu bé 5 tuổi, chạy theo cha vào rừng và phải gia nhập Khmer Đỏ, trả lời phỏng vấn trên Khmer Times. 

Dù từng là một thành viên của Khmer Đỏ, Touch luôn ca ngợi và bảo vệ sự chính nghĩa của quân tình nguyện Việt Nam trong việc thực hiện nghĩa vụ quốc tế, giúp đỡ nhân dân Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng của Pol Pot. 

Là một học giả, thông điệp rõ ràng của tôi là khi người Việt Nam vào Campuchia năm 1979, họ đã giải cứu người Campuchia khỏi chế  độ Khmer Đỏ. Nếu không có sự can thiệp của bộ đội Việt Nam, tất cả chúng ta có thể đã bị giết… Năm 1989, các đơn vị quân tình nguyện Việt Nam rút khỏi Campuchia, sau khi  đánh bại về cơ bản tàn quân Khmer Đỏ, củng cố chính quyền cách mạng cho  nước bạn và hoàn thành nghĩa vụ quốc tế của mình.

– Ông Touch nói, bác bỏ các luận điệu thù địch về sự hiện diện của quân tình nguyện Việt Nam trên đất Campuchia.

Góc nhìn của thủ tướng Campuchia Hun Sen

2 tác giả Harish Mehta và Julie Mehta của cuốn “Hun Sen nhân vật xuất chúng của Campuchia” (Hun Sen: Strongman of Cambodia) cho biết ngay tại Chương 1, về phần phỏng vấn HunSen rằng: “Cuộc phỏng vấn đã diễn ra êm xuôi cho tới khi chúng tôi hỏi ông một câu, trong đó chúng tôi đã nhắc đến hành động quân sự của Việt Nam để lật đổ chế độ diệt chủng Pol Pot như là một sự xâm chiếm.”

Điều này đã khiến cho ông Hun Sen đưa ra câu trả lời đầy sôi nổi, phẫn nộ. Ông đã nhanh chóng sửa lối giải thích lịch sử của chúng tôi, ông nói điều đó không bao giờ là một sự xâm chiếm, mà là một hành động giải phóng khỏi chế độ diệt chủng.

Ông hỏi lại bằng tiếng Anh với giọng phải cố uốn ép lên xuống, một ngoại ngữ mà ông thấy khó và chưa  bao giờ cảm thấy cần phải thành thạo “Làm thế nào tôi, một người Campuchia lại xâm chiếm đất nước của chính mình?”

Sau khi được bộ đội Việt Nam tiếp nhận ngày 20/6/1977, ông đã yêu cầu phía  Việt Nam giúp đỡ để lật đổ chế độ Pol Pot. “Tôi đã bị từ chối,” ông thất vọng kể.

Việt Nam cho biết nếu họ đồng ý yêu cầu của tôi xin giúp đỡ, họ sẽ bị coi là can thiệp vào công việc nội bộ của Campuchia Dân chủ. Khi ấy chính phủ Việt Nam sẽ cố gắng đàm phán với Campuchia Dân chủ để làm dịu các căng thẳng quân sự trên biên giới  chung.

Việt Nam luôn luôn tôn trọng sự độc lập và chủ quyền của Campuchia, các vị lãnh đạo của Việt Nam đã từ chối lời thỉnh cầu giúp đỡ của tôi và nói điều đó có thể làm phương hại đến mối quan hệ giữa hai nước.

– Thủ tướng Campuchia HunSen

Ông Hun Sen nói, một cơ hội “vàng” đã xuất hiện khi Pol Pot tấn công Việt Nam vào năm 1977. Thái độ gây hấn của Pol Pot đã đánh dấu thời kỳ bắt đầu thay đổi chính sách của Việt Nam.

Quân đội nhân dân Việt Nam tiến vào giải phóng thủ đô Phnom Penh được sự chào đón của người dân Campuchia
Quân đội nhân dân Việt Nam tiến vào giải phóng thủ đô Phnom Penh được sự chào đón của người dân Campuchia

“Một bộ phận người Campuchia” thể hiện tình cảm với Việt Nam như nào?

Ngày 7/1/2009, hàng chục nghìn người Campuchia ở Phnom Penh tụ tập tại sân vận động Olympic quốc gia ở Phnom Penh, nhiệt liệt chúc mừng 30 năm ngày kỷ niệm Campuchia thoát khỏi ách thống trị của Khmer Đỏ. Các hoạt động kỷ niệm quy mô lớn sau đó do Đảng Nhân dân Campuchia cầm quyền tổ chức và đã thu hút hơn 40.000 người tham gia. 

Ngày 7/1/2019, Hàng chục nghìn người tập trung ở sân vận động tại Phnom Penh kỷ niệm 40 năm ngày kỷ niệm Campuchia thoát khỏi ách thống trị của Khmer Đỏ. Sau khi giúp chính phủ mới của Campuchia ngăn chặn những âm mưu trỗi dậy trở lại của tàn quân Khmer Đỏ, các đơn vị quân tình nguyện Việt Nam rút khỏi Campuchia năm 1989. Thủ tướng Hun Sen nhấn mạnh nghĩa cử đó của Việt Nam mãi được khắc ghi. Các hoạt động kỷ niệm quy mô lớn sau đó do Đảng Nhân dân Campuchia cầm quyền tổ chức và đã thu hút hơn hàng vạn người tham gia trên toàn quốc.

Vậy “người Campuchia ghét Việt Nam”? hay “một bộ phận nào đó” người Cam ghét Việt Nam?! 

Qua tìm hiểu các bài viết có liên quan đến chủ đề “người Campuchia ghét Việt Nam” đều có những luận điểm sau:

–  “Một thanh niên Cam nói “17/20 người trong số bạn bè của tôi ghét Việt Nam, và cho rằng Việt Nam có âm mưu mờ ám””. Luận điểm này thường được ghi nguồn là “Một bài viết trên báo Campuchia ngày 6-9-2014 đưa lời dẫn…”, qua tìm hiểu thì đó là tờ “The Phnom Penh Post”, nếu chỉ đọc cái tên thì đa số mọi người đều “ồ, đây là 1 tờ báo của người Campuchia”. Tất nhiên đây là 1 tờ báo ở Campuchia, có điều chủ của tờ báo này là “nhà xuất bản Michael Hayes” và được 01 tổ chức NGOs có trụ sở tại Úc đầu tư. Và bài báo này đăng tải năm 2014 (nhớ kỹ cái năm này nhé).

– “Nhà tù S21 nơi trưng bày hàng trăm cái đầu lâu của dân Campuchia bị giết, giấy trắng mực đen ở đây vẫn tuyên bố Việt Nam xâm lược Campuchia. Tại sao người Campuchia coi Việt Nam là quân xâm lược?”. Luận điểm này xuất hiện trên tờ “The Cambodia Daily” và tờ báo này do Bernard Krisher, một nhà báo Mỹ thành lập. Krisher thuê hai nhà báo trẻ và tương đối thiếu kinh nghiệm, Barton Biggs và Robin McDowell, là biên tập viên của tờ báo từ năm 1993. Đồng thời luận điểm này cũng xuất hiện trên báo từ năm 2014 (lại là năm này).

Nói thêm thì “Invade” và “occupy” được nhắc tới trong bài Nhà tù S21 thì trong tiếng Anh không mang hàm ý xấu dù theo tiếng Việt nhiều người lại hay dịch là “xâm lược”“chiếm đóng”. Bởi trong tiếng Anh người ta cũng gọi nó là The Normandy Invasion – mà nếu dịch ra tiếng Việt sẽ là cuộc xâm lược Normandy, hàm ý là bọn xâm lược là bọn xấu xa. Các lực lượng Mỹ đóng quân ở Nhật Bản hay châu Âu sau Thế chiến cũng được gọi kể cả trong văn bản chính thức là Occupation Forces – các lực lượng chiếm đóng. Hai ví dụ này là bằng chứng để mọi người hiểu và bình tĩnh lại khi phản ứng quá mạnh mẽ với những từ ngữ không có chung nội hàm trong các ngôn ngữ.

Như vậy cái cụm từ “Invade” và “occupy”  xuất hiện ở các bảng hướng dẫn tại Nhà tù S21 không có ý nghĩa là “xâm lược” hay “chiếm đóng”. Theo đúng bản chất tiếng Anh là “Invade” có nghĩa là “đưa quân vượt biên giới…” và “occupy” có nghĩa là “duy trì sự hiện diện”.

– “Tìm hiểu ân oán Việt Nam – Campuchia” do Tiến sĩ (?) Nguyễn Mai Phương đăng tải trên facebook cá nhân và được Page The X-file of History đăng tải lại gần đây đều sử dụng nguồn từ các báo chí phương Tây, thậm chí là trích nguồn các luận điểm trên của 2 tờ báo nêu trên để cho đậm đà bản sắc Campuchia. Và cũng thật lạ là bài này được tăng tải lên mạng từ năm 2014!

(Lát nữa phần dưới sẽ nói về cái năm 2014 này!)

Vì sao Việt Nam phải đóng quân 10 năm tại Campuchia?!

Quan điểm của Hun Sen

Về việc quân đội Việt Nam ở lại Campuchia sau khi đánh đuổi quân Khmer Đỏ về vùng biên giới, Ông Hun Sen giải thích: “Chính tôi đã nói với Lê Đức Thọ (Ủy viên Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam) và những người khác rằng nếu họ rút quân và Pol Pot quay trở lại được, thì càng nhiều người sẽ bị giết. Vào thời điểm đó, các lực lượng của Campuchia không đủ sức chống lại Pol Pot và chúng tôi cần thời gian để củng cố các lực lượng và nền kinh tế của mình.”

Ông nói thêm:

“Chính phủ Việt Nam không muốn để quân ở lại. Phía chúng tôi yêu cầu họ như thế. Sau đó chúng tôi đồng ý họ sẽ thử giảm bớt các lực lượng của họ vào năm 1982. Chính phủ Việt Nam giảm quân số, còn chúng tôi sẽ tăng lực lượng của mình lên. Ngay cả khi là một Bộ trưởng Ngoại giao, tôi vẫn can dự vào một chiến lược như thế.

“Tôi vẫn còn nhớ cuộc họp các Bộ trưởng Ngoại giao gồm Campuchia, Lào và Việt Nam ở Hà Nội vào năm 1985, chúng tôi đã đồng ý là các lực lượng bộ đội Việt Nam sẽ rút quân từ 10 tới 15 năm nữa. Nhưng do sự phát triển nhanh chóng của các  lực lượng vũ trang Campuchia, và các cuộc đàm phán (hòa bình) giữa Sihanouk và tôi, chúng tôi đã rút các lực lượng bộ đội Việt Nam sớm hơn”.

Quan điểm của Việt Nam

“Năm 1979 chúng ta mới chỉ đánh tan chế độ diệt chủng Pol pot, nhưng chưa tiêu diệt hết lực lượng Khmer Đỏ và kể cả thủ lĩnh của chúng, chúng vào rừng và chạy qua Thái Lan lập chiến khu nhận viện trợ của Mỹ, Trung Quốc, Singapore rồi sẽ phản công trở lại. Nếu Việt Nam rút quân thì vài ngày sau Pol pot sẽ trở lại Phnompenh, mọi chuyện quay lại xuất phát ban đầu. Tiếp tục ở lại tiêu  diệt bằng hết Khmer Đỏ và giúp Campuchia xây dựng nhà nước là điều phải làm, không có cách nào khác.” 

Ngoài ra, Việt Nam vừa trải qua cuộc kháng chiến trăm năm mới giành lại toàn vẹn độc lập, thống nhất từ tay Pháp – Nhật – Mỹ, Chiến tranh biên giới với Trung Quốc cũng chỉ vừa mới lắng xuống, quan hệ giữa 2 nước vẫn đang nóng. Không thể để xảy ra tình trạng “lưỡng đầu thọ địch” như năm 1979. Đồng thời, khối ASEAN lúc đó được thành lập chủ yếu là để chống lại Việt Nam, tư duy lãnh đạo Việt Nam lúc đó thấy rõ “Mỹ đã cút, Ngụy đã nhào nhưng chư hầu của Mỹ thì vẫn vây bám Việt Nam”. Nếu không thể đảm bảo tuyến phòng thủ phía Tây Nam vững chắc để duy trì sự bình ổn cho đất nước thì vĩnh viễn Việt Nam sẽ không bao giờ có thời gian xây dựng, phát triển đất nước. Ở thế bất khả kháng, Việt Nam buộc phải duy trì sự hiện diện ở Campuchia trong một thời gian dài.

Thêm nữa, khi đó quân đội Cách mạng nhân dân Camphuchia mới được tái thành lập, khí tài thiếu thốn, kinh nghiệm gần như không có. Các thế lực trong nước (Cam) liên tục xuất hiện chống đối, Thái Lan đã tổ chức hàng ngàn căn cứ “kháng chiến” xung quanh biên giới “Thái – Cam” làm nơi ẩn náu không chỉ cho Khmer Đỏ mà còn cho các thế lực chống Việt Nam. Phe “Bảo Hoàng” gia tăng việc tuyên truyền hình ảnh cho Sihanouk như “một vị cứu tinh có thể gắn kết dân tộc” chống lại việc xây dựng 01 nhà nước XHCN ở Campuchia. Vấn đề “thù trong – giặc ngoài” ở Campuchia chỉ trực nổ tung, cái hòa bình cỏn con mà người Cam mới đạt được có thể bị hủy chỉ trong 01 ngày! Tướng Heng Samrin giữ trạng thái trung lập càng gây khốn khó cho HunSen trong việc chấn chỉnh nội bộ Campuchia. Chính vì thế việc duy trì sự hiện diện của Việt Nam tại Campuchia đã giúp đất nước này thoát khỏi cái vấn nạn như Syria, Yemen, Libia… đang diễn ra lúc này.

Quân đội nhân dân Việt Nam đóng quân tại Campuchia trong 10 năm -
Quân đội nhân dân Việt Nam đóng quân tại Campuchia trong 10 năm – “Chính phủ Việt Nam không muốn để quân ở lại. Phía chúng tôi yêu cầu họ như thế”

Vì sao có “một bộ phận người Campuchia ghét Việt Nam” và cái luận điểm này xuất phát từ đâu?

– Jaturapattarapong, cựu sinh viên trường Đại học Queensland trả lời BBC News (UK) như sau: “Đảng đối lập Chính phủ Hun Sen luôn duy trì chính sách bài  Việt Nam. Các chương trình tuyên truyền đều nhắm vào cộng đồng người Việt, với phần lớn dân số Campuchia sống tại nông thôn, họ rất dễ bị ảnh hưởng bởi các thông tin truyền bá này.”

– Năm 2012, Đảng Cứu quốc Campuchia (CNRP) được thành lập và năm 2013 thực hiện cuộc chạy đua cuộc tổng tuyển cử năm đối đầu với Đảng nhân dân Campuchia. Để thực hiện việc “kiếm phiếu bầu”, CNRP đã tung ra chiêu bài “cây thốt nốt mọc đến đâu, đất (xưa) của người Cam trải dài đến đó” xúi giục bộ phận người dân Cam mà nòng cốt là những thành phần trước đây được hưởng lợi từ chế độ Lon Nol và Khmer Đỏ ra mặt chống phá, cũng trong quá trình chạy đua này CNRP đã nhiều lần tổ chức các cuộc “vượt biên trái phép” sang Việt Nam để cắm mốc chủ quyền, đòi lại đất của Đế quốc Khmer (trước đây), đỉnh điểm là năm 2014 số vụ xâm phạm lãnh thổ Việt Nam do CNRP giật dây ngày càng nhiều, khiến cho Việt Nam phải tăng cường mức độ cảnh báo quốc phòng.

CNRP đã tung ra chiêu bài
CNRP đã tung ra chiêu bài “cây thốt nốt mọc đến đâu, đất (xưa) của người Cam trải dài đến đó” để xúi giục bộ phận người dân Campuchia mà nòng cốt là những thành phần trước đây được hưởng lợi từ chế độ Lon Nol và Khmer Đỏ ra mặt chống phá.

Tại thời điểm này (năm 2014), “Đoàn hòa bình (Peace Corps)” của Mỹ bị Cục An ninh Campuchia điều tra với lý do đứng sau việc hẫu thuận cho CNRP tổ chức các hoạt động nhằm lật đổ HunSen. Được biết việc thành lập CNRP cũng có sự “lobby” của PC đối với các chính trị gia, đảng phái khác trong chính phủ nhằm tạo ra thế cân bằng với Đảng Nhân dân Campuchia của HunSen. Đến năm 2017, “Đoàn hòa bình  (Peace Corps)” bị Chính phủ Campuchia buộc phải rút khỏi Campuchia, cũng trong năm này CNRP bị Tòa án Tối cao Campuchia ra phán quyết giải thể với tội danh “phản quốc”, âm mưu lật đổ chính quyền hiện tại một cách bất hợp pháp.

Như vậy, Luận điểm “người Campuchia ghét Việt Nam” thực chất bắt đầu nở rổ và phát triển mạnh tạo thành “dòng tư tưởng” trong người Việt là từ năm 2014. Khi mà CNRP và Mỹ đứng sau thực hiện các âm mưu nhằm phá hoại tình đoàn kết “Việt-Cam” cũng như âm mưu lật đổ chính quyền HunSen.

Phải chăng “tinh thần tự nhục” của người Việt đã vượt quá sự kiểm soát kể cả về mặt tinh thần khi mà chỉ cần “nghiên cứu” các tài liệu có nguồn gốc từ “Tây – Mỹ” là y rằng tin răm rắp, rồi từ đó về biên thành 01 bài dài ngoằng gắn thêm cái mác “Tiến sĩ” sau đó khiến cả ngàn người Việt “tự nhục” tin theo, để rồi trong tiềm thức cứ đinh ninh “người Campuchia ghét Việt Nam”.

Tôi đảm bảo rằng, “một bộ phận người Campuchia ghét Việt Nam” là có, bởi ở thời kỳ nào, đất nước hay chế độ nào luôn luôn có 01 bộ phận nào đó của dân tộc nào đó ghét những dân tộc, đất nước khác. Có điều đừng nhập nhằng ghi rằng “người Campuchia ghét Việt Nam”, một bộ phận kia không đại diện cho tất cả. Còn những người Campuchia có tiếng nói, có uy tín và đã từng tham gia Khmer Đỏ đã lên tiếng nhiều lần phản bác cái luận điểm “người Campuchia ghét Việt Nam”!

Các bạn không chung tay xây dựng đất nước được thì cũng đừng góp công phá hoại! Giữa đám đông có thể lạc quan, có điều khi còn một mình thì… lạc lối đấy!

Bão Lửa

Lịch sử Việt Nam

Tại sao Việt Nam không yêu cầu Nhật Bản bồi thường chiến tranh như Hàn Quốc?

Vấn đề bồi thường chiến tranh trong những năm tháng Nhật Bản chiếm đóng bán đảo Triều Tiên luôn là vấn đề nhạy cảm, gây ra rất nhiều tranh cãi và xung đột lợi ích, giữa hai người hàng xóm Nhật Bản và Hàn Quốc. Nhật Bản cũng từng chiếm đóng và gây ra nhiều […]
7

Vấn đề bồi thường chiến tranh trong những năm tháng Nhật Bản chiếm đóng bán đảo Triều Tiên luôn là vấn đề nhạy cảm, gây ra rất nhiều tranh cãi và xung đột lợi ích, giữa hai người hàng xóm Nhật Bản và Hàn Quốc.

Nhật Bản cũng từng chiếm đóng và gây ra nhiều tội ác chiến tranh tại Trung Quốc và Việt Nam. Những thiệt hại mà phía Trung Quốc và Việt Nam gánh chịu cũng không hề thua kém so với phía Hàn Quốc, nếu không muốn nói là hơn. Nhưng, thái độ của Việt Nam và Trung Quốc với Nhật Bản khác hoàn toàn thái độ của Hàn Quốc với Nhật Bản. Trong diễn đàn giao lưu văn hóa Việt Nhật, có khá nhiều người Nhật đặt ra câu hỏi: Tại sao Việt Nam và Trung Quốc không yêu cầu Nhật Bản đền bù tội ác chiến tranh, trong khi Hàn Quốc thì luôn luôn đòi hỏi?

Nhật Bản bồi thường chiến tranh cho Hàn Quốc

Thực tế, theo Hiệp định cơ bản Hàn – Nhật và Hiệp định yêu sách Hàn – Nhật được kí năm 1965, Nhật Bản đã đền bù cho phía Hàn Quốc khoảng 300 triệu USD tiền mặt, cho vay ưu đãi khoảng 200 triệu USD và và thu xếp vốn, đào tạo nhân lực, hỗ trợ công nghệ, kỹ thuật cho một số dự án tại Hàn Quốc. Trong Hiệp định yêu sách Hàn – Nhật có ghi rõ rằng “Cam kết giải quyết hoàn toàn và triệt để tài sản, quyền lợi, lợi ích của hai nước và nhân dân khi kí kết hiệp định..”.  Ngoài ra, Hiệp định yêu sách Hàn – Nhật còn lấy căn cứ đòi bồi thường từ phía Hiệp ước hòa bình San Francisco – hiệp định mà Nhật Bản sẽ tiến hành bồi thường cho các nước Đồng Minh nhằm mục đích bình thường hóa quan hệ.

Một bản sao Hiệp định yêu sách Hàn - Nhật, 1965 được trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử Đương đại Quốc gia Hàn Quốc
Một bản sao Hiệp định yêu sách Hàn – Nhật, 1965 được trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử Đương đại Quốc gia Hàn Quốc (Ảnh Wikipedia)

Tức là nếu xét đúng nghĩa ra, thì Nhật Bản đã hoàn tất dứt điểm các yêu cầu đòi đền bù từ phía Hàn Quốc thông qua hiệp định song phương và đa phương.

Tuy nhiên, những năm 2000, phía Hàn Quốc muốn lật lại hồ sơ chiến tranh, xoáy sâu vào tội ác chiến tranh của Nhật Bản tại bán đảo Triều Tiên và muốn phía Nhật Bản tiếp tục đền bù hậu quả chiến tranh. Phía Hàn Quốc lúc đó có động thái giống như kiểu: “Tôi biết, nhưng đền bù như thế là quá ít”.

Phía Hàn Quốc tiến hành “lách luật”, cho rằng Chính phủ Nhật Bản mới chỉ đền bù cho Chính phủ Hàn Quốc chứ chưa đền bù cho người dân Hàn Quốc. Các hiệp định, thỏa thuận về đền bù tội ác chiến tranh đều do hai bên Chính phủ thỏa thuận, ký kết và làm việc, còn người dân Hàn Quốc thì không được hưởng. Và rồi, nhiều công dân Hàn Quốc là nạn nhân của chiến tranh tiến hành khởi kiện các công ty Nhật Bản tại Hàn Quốc, yêu cầu đền bù. Phía Nhật Bản khó chịu ra mặt, các công ty Nhật Bản cũng không đồng tình, thì phía Tòa án Hàn Quốc ra phán quyết tịch thu tài sản của một số công ty Nhật tại Hàn Quốc.

Nhằm theo đuổi vụ kiện, phía Hàn Quốc thậm chí còn từ bỏ quyền chiến thắng, gỡ bỏ tư cách Hàn Quốc thuộc khối Đồng Minh tại Chiến tranh Thế giới thứ II. Tháng 8/2019, KBS dẫn nguồn tin từ một cán bộ ngoại giao Hàn Quốc cho rằng Hàn Quốc không phải là quốc gia thắng trận, không thuộc khối Đồng Minh, không tham gia vào Hiệp ước San Francisco. Rồi họ “lật kèo”, cho rằng Hiệp định yêu sách Hàn – Nhật thực chất chỉ giải quyết vấn đề công nợ của hai quốc gia.

Phía Nhật Bản muốn giải quyết vấn đề theo thông lệ quốc tế, mong muốn phía Hàn Quốc cử đại diện tham gia vào Ủy ban trọng tài quốc tế thì phía Hàn Quốc từ chối. Tháng 7/2019, phía Hàn Quốc khước từ và cho rằng phải do Tư pháp Hàn Quốc xử lý – nói trắng ra là Hàn Quốc phán như thế nào thì phía Nhật phải tuân theo.

Nhật từng đền bù cho VNCH vì sức ép của Mỹ

Nhật Bản cũng từng đền bù cho Việt Nam, nhưng lại đền bù cho phía Việt Nam Cộng Hòa vì sức ép của Mỹ. Phía Nhật cho rằng nếu đền bù, họ phải đền cho phía Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa – tức là Bắc Việt, vì tội ác lớn nhất mà họ gây ra là nạn đói Ất Dậu diễn ra tại Bắc Bộ chứ không phải là ở miền Nam.

Lúc đầu, phía Quốc gia Việt Nam yêu cầu Nhật Bản bồi thường 2 tỷ USD nhưng phía Nhật Bản cho rằng số tiền đó là quá lớn và đối tượng đền bù là sai – vì một số thành viên nội các Nhật muốn đền bù cho phía Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Năm 1956, VNCH yêu cầu Nhật Bản đền bù 250 triệu USD, Nhật Bản không chịu. Do quá túng tiền, VNCH “mặc cả” số tiền đền bù xuống còn 39 triệu USD. Việc chốt kèo diễn ra, Nhật Bản sẽ xây nhà máy thủy điện Đa Nhim cho VNCH.

Vì sao Việt Nam không yêu cầu Nhật Bản bồi thường chiến tranh?

Năm 1973, sau khi kí Hiệp định Paris, Nhật thừa nhận có hai chính quyền ở Việt Nam. Họ cử một viên chức đại diện ngoại giao Nhật đến Hà Nội, mong muốn đề cập đến vấn đề bồi thường cho nạn nhân miền Bắc chết đói vào năm 1945. Phía Nhật khá là sòng phẳng khi luôn tâm niệm rằng, nếu đền bù, phải đền bù cho đúng.

Điều bất ngờ là chỉ mất vỏn vẹn 5 tháng, phía VNDCCH và Nhật Bản tiến hành xong các trao đổi về bồi thường. Theo đó, phía Nhật sẽ không phải bồi thường hậu quả chiến tranh, phía VNDCCH sẽ không khoét sâu vào tội ác chiến tranh. Nhật Bản sẽ viện trợ cho VNDCCH và ủng hộ công cuộc thống nhất của nhân dân Việt Nam.

Đầu tiên, phía VNDCCH mong muốn có thêm bạn bè và không muốn khoét sâu vào nỗi đau chiến tranh, còn Nhật Bản đang muốn gây dựng lại hình ảnh hòa bình, hợp tác. Phía VNDCCH đề nghị phía Nhật Bản viện trợ nhân đạo thay vì bồi thường chiến tranh, rõ ràng, cụm từ “viện trợ nhân đạo” có ý nghĩa ngoại giao rất lớn trong lúc cả hai đang gây dựng hình ảnh với thế giới.

Tính đến năm 1973, cũng đã trải qua gần 30 năm từ khi các tội ác chiến tranh xảy ra và nhiều người gây ra tội ác đã không còn nữa. Nhật Bản vừa là kẻ gây ra tội ác chiến tranh, nhưng cũng đồng thời là một nạn nhân. Việt Nam thấu hiểu Nhật Bản ở tư cách của một quốc gia bị chiến tranh tàn phá. Hai quốc gia nhất loạt khép lại quá khứ, hướng tới tương lai. Thực tế, Nhật Bản cũng rất thiện chí đền bù, họ luôn xác định rằng các nạn nhân của nạn đói đều ở miền Bắc và họ muốn đền bù cho Chính phủ VNDCCH – đại diện cho miền Bắc Việt Nam.

Đó là vì sao mà hai bên rất nhanh chóng đi đến các thỏa thuận dàn xếp khắc phục hậu quả chiến tranh. Việt Nam chính là quốc gia cuối cùng mà Nhật Bản tiến hành các đàm phán về việc khắc phục hậu quả chiến tranh. Và cũng là cuộc đàm phán nhanh nhất về vấn đề này. Cuộc đàn phám cuối cùng này đã tháo gỡ cái gông cùm “tội ác chiến tranh” cho Nhật Bản, nhưng cuối cùng, người Hàn lại mang nó trở lại.

Một phần nữa, khiến Việt Nam không lớn tiếng đòi hỏi đền bù như Hàn Quốc vì phúc lợi cho những nhóm người yếu thế, như thương binh, nạn nhân chiến tranh khá tốt. Tại Việt Nam, gần như không có các trường hợp kiện cáo liên quan đến phúc lợi xã hội thời kỳ chiến tranh xảy ra, nếu có, thì thường liên quan đến các vấn đề xác định đối tượng hơn. Còn phía Hàn Quốc thì có, chính vì che lấp đi những sai phạm, phía Hàn Quốc muốn chĩa mũi sang phía Nhật Bản.

Xem thêm: Những vụ thảm sát kinh hoàng của lính Hàn Quốc tại Việt Nam

Một yếu tố khiến người Việt không “đay nghiến” chuyện tội ác chiến tranh là xuất phát từ lịch sử.

Trong lịch sử, đặc biệt là thời phong kiến, Nhật Bản và Trung Quốc chưa bao giờ xem Hàn Quốc là một quốc gia ngang hàng, nếu không muốn nói là chư hầu, thuộc địa. Chính vì sự mặc cảm đó, nên Hàn Quốc duy trì một thái độ tương đối thù địch với Nhật Bản, họ muốn vượt Nhật Bản, muốn vượt qua khỏi tâm thế yếu kém trong quá khứ. Vì thế, họ chấp nhận đào sâu vào vấn đề tội ác chiến tranh, bắt ép Nhật Bản phải “nhận thua”.

Còn với Việt Nam, tâm thế khác hẳn. Trong lịch sử, Việt Nam khá “bướng”, mặc dù ở ngay dưới Trung Quốc, đánh nhau liên miên, lễ vật cho Trung Quốc khá nhiều, nhưng các triều đại Việt Nam vẫn duy trì một tâm thế độc lập, tự chủ. Tức là mặc áo long bào, có ấn tín riêng, không chấp nhận cử thái tử kế thừa đi học tại Trung Quốc, đi sứ Trung Quốc thì cứ thẳng tiến cổng chính mà bước vào… Còn với Nhật Bản, mối giao hảo trong quá khứ cũng tương đối lành, vì vốn hai quốc gia ở xa nhau. Và còn có lúc, Việt Nam gián tiếp giúp Nhật Bản thoát khỏi nhiều lần bị đe dọa chủ quyền lãnh thổ. Việc năm lần bảy lượt đòi đền bù, rồi lôi nạn nhân ra mặc cả xem ra không được đúng cho lắm với cái tâm thế ngang bằng giữa Việt Nam và Nhật Bản, hay Việt Nam với Trung Quốc. 

Việt Nam tuyên bố đứng về phe Đồng Minh và khối Đồng Minh đã thắng trận. Nhưng Việt Nam không hề đòi bồi thường hay lợi lộc gì cả, Việt Nam chỉ quan tâm đến đánh đuổi Nhật và có lại được nền hòa bình. Đó là vì sao, những khoản tiền đền bù đền không phải là mục tiêu tối thượng. Còn Hàn Quốc thì khác, họ sẵn sàng từ bỏ tâm thế “kẻ thắng trận” để theo đuổi vụ việc đòi đền bù.

Nhật viện trợ ODA cho Việt Nam không phải là bồi thường chiến tranh!

Nhiều người sẽ bảo rằng: Nhật viện trợ ODA cho Việt Nam coi như là khắc phục hậu quả chiến tranh rồi. Điều đó sai bét, bản chất ODA từ Nhật Bản là nguồn tiền mà chúng ta phải đánh đổi bằng tài nguyên, bằng việc ưu đãi cho các quốc gia cung cấp vốn ODA hoặc sẽ phải trả trong tương lai. Nói thì vấn đề này thì dài, nhưng tóm gọn lại, chưa có bất cứ văn bản chính thức nào giữa hai quốc gia coi ODA là “đền bù hậu quả chiến tranh”.

Nhìn những nạn nhân của tội ác chiến tranh tại Hàn Quốc cầm băng rôn, đứng xếp hàng ở vỉa hè, biểu tình đòi kiện cáo ngày này qua tháng nọ. Mình liên tưởng đến một khả năng, nếu các mẹ Việt Nam anh hùng, các bác thương binh hay người thân của họ cũng làm như vậy, thì sẽ thế nào? Trước tiên, đó là lỗi của chúng ta, những thế hệ sau, đã không tròn trách nhiệm, nghĩa vụ với người đi trước. Sau đó, là cảm giác như kiểu đem sự thương đau ra nhắc đi nhắc lại vậy.

Hòa giải, không có nghĩa là lãng quên một cách vô tình hay cố ý những tội ác, xung đột trong quá khứ hay nỗ lực, mặc cả dựa để đạt được các quyền lợi kinh tế. Hòa giải, ở đây, là làm việc cùng nhau, đối diện với nhau, coi quá khứ như một bài học để hướng đến tương lai.

Tifosi