Lịch sử Việt Nam

Phản biện cái gọi là “VNCH là một chính thể, thực thể từng tồn tại trong lịch sử” của các nhà sử học viết Quốc sử

Hợp pháp hóa cho cái gọi là "Chính quyền Sài Gòn, chính quyền VNCH" trong bộ Quốc sử là phủ nhận tội ác của kẻ làm tay sai, bán nước, phản bội, phủ nhận tội xâm lược của thực dân đế quốc.
13

Ông Trần Đức Cường, chủ biên tập 21 (1954-1965) và ông Nguyễn Mạnh Hà, đồng chủ biên tập 22 (1965-1975) của bộ Quốc sử thuyết giảng rằng:

“Bộ Quốc sử sẽ ko viết ngụy quân, ngụy quyền Sài Gòn, mà viết là chính quyền Sài Gòn hay chính quyền VNCH, vì nó là một thực thể chính trị, một chính thể đã từng tồn tại trong lịch sử giai đoạn 1954 – 1975”.

Ông Trần Đức Cường trả lời trên báo Tuổi trẻ
Ông Trần Đức Cường trả lời trên báo Tuổi trẻ

Vớ được chữ “chính thể” từ đôi miệng mĩ miều của hai nhà sử học này, nhiều kẻ adua, hùa bầy lên fb lớn tiếng chửi những người phản đối thay chữ ngụy quyền bằng “chính quyền”, rằng: VNCH là một thực thể, nó đã từng tồn tại. 

Khi tôi hỏi rằng: “Thực thể, Chính thể” là gì thì họ im lặng.

Với thiển cận của mình, tôi sẽ chứng minh rằng: Ngụy quyền Sài Gòn không phải là một chính thể, thực thể chính trị. Cũng chẳng mong bài viết đến với HĐ thẩm định bộ quốc sử, chỉ hy vọng giải bày cùng dư luận về quan điểm cá nhân.

Ông Nguyễn Mạnh Hà nói về
Ông Nguyễn Mạnh Hà nói về “VNCH là một chính thể, thực thể từng tồn tại trong lịch sử” trên báo chí

Trước hết đi tìm hiểu thế nào, điều kiện nào thì được gọi là thực thể chính trị (hay gọi là chính thể):

Thực thể chính trị (hay gọi là chính thể)

Thực thể (tiếng Anh: entity) là một cái gì đó tồn tại như tự chính nó, như một chủ thể hoặc như một khách thể, một cách thực sự hay một cách tiềm năng, một cách cụ thể hay một cách trừu tượng, một cách vật lý hoặc không.

Thuật ngữ “chính thể” là một từ Hán Việt cổ, dùng để chỉ một chế độ chính trị, cách thức tổ chức nhà nước (regime). Hiện nay, trên thế giới có hai loại hình thức chính thể cơ bản. Đó là chính thể quân chủ và chính thể cộng hoà:

– Chính thể quân chủ là chính thể mà ở đó nguyên thủ quốc gia do thế tập truyền ngôi, quyền lực nhà nước có nguồn gốc từ cõi “hư vô”, do thiên đình định đoạt.

– Chính thể cộng hoà là chính thể nguyên thủ quốc gia do bầu cử lập nên và quyền lực nhà nước có nguồn gốc từ nhân dân. Thuật ngữ “cộng hoà” có nguồn gốc từ thành ngữ Hy Lạp “Respublica est res populi”, có nghĩa là “Nhà nước là công việc của nhân dân”.

Như vậy, tiêu chuẩn đơn giản nhất để xác định một thực thể chính trị – chính thể chân chính là thực thể chính trị đó phải được tổ chức bầu cử tự do, bình đẳng! Dân chủ đảm bảo sự chân chính của quyền lực, biến nó thành chính quyền. Tức là chính quyền đó phải có tính nhân dân, có nguồn gốc từ nhân dân. Và nó tồn tại phải tự chính nó, như một chủ thể, như một khách thể – mới bảo đảm chính danh, hợp pháp.

Vậy, ngụy quyền Sài Gòn có phải là một thực thể chính trị – một thể chế cộng hòa chính danh hay không?

Nó do ai lập ra? Nó có tồn tại tự thân nó như một chủ thể hay không? Nó có phải là một thể chế cộng hòa thực sự – nguồn gốc từ nhân dân không? Xin thống kê quá trình tồn tại của cái gọi là “VNCH” sau đây thì mọi người sẽ rõ:

1. Chính phủ “Quốc Gia” của Bảo Đại chắc chắn không phải là một chính quyền, không là một thực thể chính trị, một chính thể chính danh.

Bởi, Sau thất bại của cái gọi là Chính phủ “Nam Kỳ quốc” của Nguyễn Văn Thinh (6-1946) và Chính phủ Lê Văn Hoạch (12-1946), thực dân Pháp lập ra cái gọi là “Chính phủ lâm thời Nam phần Việt Nam” (10-1947), do Nguyễn Văn Xuân làm Thủ tướng và xúc tiến mạnh mẽ việc lôi kéo Bảo Đại đứng ra lập Chính phủ “quốc gia”.

Theo thỏa ước Auriol, Bảo Đại kí kết tháng 3-1949, đã cho phép Bảo Đại đứng ra lập Chính phủ vào tháng 7-1949 do Bảo Đại làm Quốc trưởng kiêm Thủ tướng, Nguyễn Văn Xuân làm Phó thủ tướng kiêm Tổng trưởng Quốc phòng. Đến tháng 1-1950, Bảo Đại lại cho lập chính phủ mới do Nguyễn Phan Long làm Thủ tướng, Phan Huy Quát làm Bộ trưởng Quốc phòng. Tháng 5-1950, chúng lại lập chính phủ do Trần Văn Hữu làm Thủ tướng kiêm việc ngoại giao, quốc phòng.

Từ đó đến năm 1954, Chính phủ “quốc gia” do thực dân Pháp thành lập một cách bất hợp pháp đã liên tục cải tổ và thay đi, đổi lại nhiều lần song vẫn không đạt được ý muốn vì chúng đi ngược lại nguyện vọng độc lập tự do của dân tộc Việt Nam.  

Vì vậy cái gọi là “VNCH là sự kế tiếp của chính phủ Quốc gia” để chứng minh ngụy quyền Sài Gòn là một thực thể chính trị chính danh lại càng phi lịch sử, phi khoa học. 

Hãy xem sử gia người Pháp Philippe Devillers nhận xét về cái “quốc gia Việt Nam” của Bảo Đại được Pháp dựng lên nhằm đối lập với chế độ cộng hòa dân chủ Việt Nam:

“Nó chẳng phải là một nước quân chủ, cũng chẳng phải là một nước cộng hòa, cái “Quốc gia Việt Nam” này không có cơ sở nhân dân, không có Quốc hội, ngay một Quốc hội tư vấn cũng không có, không có Hiến pháp và trong nhiều năm không có cả ngân sách. Một vài cái gọi là đảng chính trị của nó chỉ là những đoàn thể, những bè phái lộng quyền, những môn khách của những nhân vật tai mắt, nó hoàn toàn phụ thuộc vào quân đội, cảnh sát và ngân khố của nước Pháp.

Nó sắp sửa phát triển thành một chế độ cung đình, trong đó những âm mưu sẽ được kết cấu ngay trong lòng hoặc xung quanh “nơi cái hoàng gia” thực chất là một phòng chính trị. Nhà vua ở đây gợi lên ấn tượng mình hầu như chỉ là một biểu tượng mà thôi. Ở đằng sau là những nơi đi săn, những sòng bạc, những đàn bà, những địa vị, đồng bạc”

2. Còn cái gọi là “chính thể, chính quyền Việt Nam cộng hòa” của các ông viết Quốc sử: Phan Huy Lê, Trần Đức Cường, Vũ Minh Giang, Nguyễn Mạnh Hà, Vũ Quang Hiển…và các hội “bàn đầy” không thể gọi là một thực thể chính trị hay một chính quyền hợp pháp, nên nó không tồn tại chính danh như một thực thể.

Ngày 23-10-1955, Ngô Đình Diệm được Mỹ dựng lên lèo lái truất phế Bảo Đại lập ra cái gọi là “Việt Nam cộng hòa”.

Ngày 1-11-1963, đảo chính lật đổ Diệm – Nhu, do Hội đồng tướng lĩnh thực hiện, đứng đầu là Dương Văn Minh.

30-1-1964, đảo chính lật đổ Dương Văn Minh, do “Hội đồng quân lực” thực hiện, đứng đầu là Nguyễn Khánh. Khánh lên làm Thủ tướng kiêm Tổng tư lệnh.

Ngày 27-8-1964, “Hội đồng quân lực” lại “chỉnh lý” lập “tam đầu chế”: Minh – Khánh – Khiêm.

Ngày 13-9-1964, đảo chính hụt do Lâm Văn Phát và Dương Văn Đức cầm đầu.

1964, Nguyễn Khánh lật đổ Minh- Khiêm.

20-10-1964, do sức ép của Mỹ, Khánh phải ra khỏi chính quyền, đưa Phan Khắc Sửu lên làm Quốc trưởng và Trần Văn Hương làm Thủ tướng.

Ngày 25-1-1965, “Hội đồng quân lực” hạ Hương rồi đưa Phan Huy Quát lên làm Thủ tướng.

19-2-1965, “Hội đồng quân lực” do Nguyễn Văn Thiệu cầm đầu, loại Khánh ra khỏi quân đội.

1965, “Hội đồng quân lực” lật đổ chính quyền dân sự của Phan Khắc Sửu, Phan Huy Quát, lập Ủy ban lãnh đạo quốc gia do Thiệu làm Chủ tịch và Nguyễn Cao Kỳ làm Chủ tịch ủy ban hành pháp trung ương (Thủ tướng) v.v…”. 

Rõ ràng,  cái gọi là “chính thể, chính quyền Việt Nam Cộng Hòa” đã bị các nhà sử học hư cấu lên thành chính quyền – chính thể – thực thể chính trị, đã bị Thượng nghị sĩ (4 năm sau trở thành Tổng thống Mỹ) John F. Kennedy tuyên bố vạch trần sự thật vào ngày 1/6/1956:

“Nếu chúng ta không phải là cha mẹ của nước Việt Nam bé nhỏ (chỉ đệ nhất “Việt Nam cộng hòa” của Ngô Đình Diệm) thì chắc chắn chúng ta cũng là cha mẹ đỡ đầu của chúng nó. Chúng ta là chủ tọa khi nó ra đời, chúng ta viện trợ để nó sống, chúng ta giúp định hình tương lai cho nó (…). Đó là con đẻ của chúng ta – chúng ta không thể bỏ rơi nó, chúng ta không thể không biết tới những nhu cầu của nó” (Nhìn lại quá khứ. Tấn thảm kịch và những bài học Việt Nam – Robert S. Mc. Namara. NXB. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, tr. 43, 44). 

Còn viên Tư lệnh Mỹ ở miền Nam, Tướng John W. O’Daniel thì nói “toạc móng heo”“Ai chi tiền thì người đó chỉ huy”(Who pays, commands)… 

Trong bản ghi âm được giải mật sau này về cuộc trao đổi giữa Tổng thống Mỹ Richard Nixon và ngoại trưởng Henry Kissinger, Nixon nói rõ việc ông quyết định sẽ bỏ mặc “đứa con Việt Nam cộng hòa” để có thể thoát khỏi cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam:

– Henry Kissinger: “Tôi nghĩ Thiệu nói đúng đấy. Hiệp định Paris sẽ đẫy ngụy quyền Sài Gòn vào thế nguy hiểm”.

– Còn Richard Nixon: “Nó (ngụy quyền Sài Gòn) phải tự chống đỡ thôi… Nếu nó chết thì cứ để cho nó chết. Nó lớn rồi, chúng ta không thể cứ cho nó bú mớm mãi được” (Phim tài liệu “The Vietnam War. PBS. 2017. Tập 9).

– Còn Ngô Đình Diệm (trong bài diễn văn tại buổi tiệc trưa do thị trưởng New York tổ chức tại khách sạn Waldorf-Astoria ngày 13/5/1957) cũng thẳng thắn thừa nhận rằng:

“Liên quan tới vấn đề an ninh, biên giới Hoa Kỳ không ngừng ở Đại Tây Dương và Thái Bình Dương, mà kéo dài, ở Đông Nam Á, tới sông Bến Hải, ở vĩ tuyến 17 của Việt Nam, hình thành một biên giới của thế giới tự do, cái mà chúng ta đều trân trọng” (Bản dịch của tác giả Thiên Hạ, Báo Tây Ninh) – “With regard to security, the frontiers of the United States do not stop at the Atlantic and Pacific Coasts, but extend, in South East Asia, to the Ben Hai river, which partitions Viet-Nam at the 17th parallel, and forms the threatened border of the Free World, which we all cherish”.

– Chính tên “đại tướng” Cao Văn Viên – “Tổng tham mưu trưởng” của cái gọi là “quân lực Việt Nam cộng hòa” đã sổ toẹt về bản chất “tầm gửi” của đội quân Sài Gòn vào Mỹ khi phái đoàn nghị sĩ và dân biểu đến gặp để hỏi “về chiến lược quân sự của Bộ Tổng tham mưu” (Viên trả lời): “Chúng ta không có trách nhiệm về chiến tranh (!) Trách nhiệm chiến đấu ở đây là người Mỹ. Chính sách đó do họ đề ra, chúng ta chỉ theo họ mà thôi!” . 

– Còn tên “Trung tướng” Trần Văn Đôn, nguyên Tổng tư lệnh của cái gọi là “quân đội Việt Nam cộng hòa” kiêm “Tổng trưởng quốc phòng” thú nhận:

“Mỗi khi Mỹ đề nghị điều gì khó khăn, nếu về hành chính thì Tổng thống Thiệu giao cho Thủ tướng Trần Thiện Khiêm, còn về quân sự thì giao cho Tổng tham mưu trưởng Cao Văn Viên. Dĩ nhiên hai ông này sẽ làm theo đường lối của Mỹ. Hai ông này không hẳn thích Mỹ nhưng trải qua kinh nghiệm của những người đi trước; họ hiểu rằng muốn sống yên trên địa vị cao sang của mình thì phải chiều theo ý Mỹ. Vì vậy mà Mỹ thích hai ông đó nắm trọn lực lượng quân sự và chính trị trong nước. Đó cũng là cách hay nhất để nắm luôn Tổng thống Thiệu bởi vì nếu cần thì… hai người đó sẽ đảo chính dễ dàng!”

Trần Văn Đôn đã hỏi, và Thiệu cũng trả lời cho Đôn: “Hai người này (kể thêm Trần Thiện Khiêm, thủ tướng) là người của Mỹ chọn, nếu tôi đổi hai người này thì Mỹ sẽ phản đối, tôi sẽ gặp nhiều khó khăn. Cái khó khăn của tôi ai cũng nghĩ là (chỉ) đối đầu với Cộng sản. Thật ra trở ngại và khó khăn cho tôi là Mỹ. Ví dụ như việc bổ nhiệm người trong nội các, người nào Mỹ không phản đối thì được, còn phản đối thì khó mà làm việc”.(Đọc hồi ký của tướng tá Sài Gòn xuất bản ở nước ngoài của tác giả Mai Nguyễn, NXB. Trẻ, trang 294, 295).

– Và tổng thống ngụy quyền Sài Gòn –  Nguyễn Văn Thiệu nhiều lần xác nhận bản chất là lính đánh thuê của mình: “Mỹ còn viện trợ, thì chúng ta còn chống cộng”; hoặc: “Nếu Hoa Kỳ mà không viện trợ cho chúng tôi nữa thì không phải là một ngày, một tháng hay một năm mà chỉ sau 3 giờ, chúng tôi sẽ rời khỏi Dinh Độc Lập!”Michael Mc Lear. Vietnam, The Ten Thousand Day War. London: Thames Methuen, 1982. trang 895, 896); hoặc:“Sẽ từ chức ngày nào Mỹ ngừng viện trợ cho Việt Nam cộng hòa” ( Tâm sự tướng lưu vong của Hoàng Linh Đỗ Mậu – NXB Công an nhân dân, tr.607). 

– Khi trả lời phỏng vấn báo Thanh Niên Xuân Ất Dậu – 2005, ông Nguyễn Cao Kỳ, nguyên Thủ tướng của cái gọi là “Việt Nam cộng hòa” cũng xác nhân: “Mỹ luôn đứng ra trước sân khấu, làm “kép nhất”. Vì vậy ai cũng cho rằng đây là cuộc chiến tranh của người Mỹ và chúng tôi chỉ là những kẻ đánh thuê”.

Rõ ràng, cái “quốc gia Việt Nam” của Bảo Đại, cái ”Chính phủ lâm thời” của Trần Trọng Kim  hay cái “Việt Nam cộng hòa” của Ngô Đình Diệm, Nguyễn Văn Thiệu đều là chế độ do ngoại bang dựng lên, là bộ máy làm thuê, làm tay sai, làm bù nhìn cho thực dân Pháp, phát xít Nhật và đế quốc Mỹ xâm lược chứ làm gì có thể tồn tại như tự chính nó, như một chủ thể, một khách thể hoặc cái có sự tồn tại độc lập được, cũng chẳng phải có nguồn gốc từ nhân dân, phải không thưa các vị sử học!

Khi Mỹ đổ quân vào xâm lược nước ta. Ngày 17-7-1966, trong Lời kêu gọi “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” Chủ tịch Hồ Chí Minh viết:

“Hỡi đồng bào và chiến sĩ cả nước! Đế quốc Mỹ dã man, gây ra chiến tranh xâm lược hòng ăn cướp nước ta, nhưng chúng đang thua to. Chúng ồ ạt mang gần 30 vạn quân viễn chinh vào miền Nam nước ta. Chúng nuôi dưỡng ngụy quyền, ngụy quân làm công cụ hại dân phản nước. Chúng dùng những phương tiện chiến tranh cực kỳ man rợ, như chất độc hóa học, bom napan, v.v.. Chúng dùng chính sách đốt sạch, giết sạch, phá sạch. Bằng những tội ác ấy, chúng hòng khuất phục đồng bào miền Nam ta…” (Thơ văn Hồ Chí Minh – NXB Giáo Dục tr. 508).

Hành động của các nhà sử học và bọn “bàn đầy” lươn lẹo, hư cấu cho ngụy quyền Sài Gòn lên thành “thực thể đã từng tồn tại trong lịch sử”, chính danh, hợp pháp hóa cho cái gọi là “Chính quyền Sài Gòn, chính quyền VNCH” trong bộ Quốc sử là phủ nhận tội ác của kẻ làm tay sai, bán nước, phản bội, phủ nhận tội xâm lược của thực dân đế quốc, xóa nhòa khoảng cách: Ta – Bạn – Thù, Chính – Tà, cứu Nước – phản quốc, nhằm đánh đồng bè lũ bù nhìn, tay sai bán nước, ngụy quyền, ngụy quân Sài Gòn với Đảng Cộng sản, Quân đội NDVN và Nhân dân Việt Nam là không chấp nhận được. Tuyệt đối không thể chấp chận.

Xem thêm: Việt Nam Cộng Hoà có thực sự phồn vinh?

Lê Thanh Minh

Lịch sử Việt Nam

Cả một trung đoàn quân VNCH ra đầu hàng trong mùa hè đỏ lửa 1972

Ngày 2/4/1972 tại căn cứ Tân Lâm - Quảng Trị, Trung tá Phạm Văn Đính cùng trung đoàn 56 bộ binh VNCH rời khỏi công sự đầu hàng QGPMN. Đây là một cơn chấn động tinh thần lớn đối với Bộ tư lệnh Sư đoàn 3 bộ binh VNCH nói riêng và toàn bộ QLVNCH nói chung.
9

Trước sự tấn công như vũ bão của Trung đoàn Pháo binh 38 (Đoàn Bông Lau) – Quân giải phóng. Trung tá Phạm Văn Đính – Trung đoàn trưởng Trung đoàn 56 của Sư đoàn 3 Bộ binh Quân lực VNCH đã lên hệ thống truyền tin để xin được gặp người chỉ huy cao nhất của Đoàn Bông Lau, xin ngừng bắn để treo cờ trắng dẫn toàn bộ binh sĩ của Trung đoàn ra đầu hàng.

Sự kiện này đã được cựu chiến binh Hồ Văn Duyệt kể lại như sau:

Hồi đó tôi là giáo viên trường Sĩ quan Pháo binh được phái đi phục vụ cuộc tiến công chiến lược năm 1972. Tôi được đi cùng trung đoàn pháo binh 38, chi viện cho sư đoàn 304, tấn công căn cứ Carroll do trung đoàn 56, sư đoàn 3 đóng giữ.

Ngày 2/4/1972, đồng chí Trung đoàn phó Pháo binh chỉ huy đài quan sát phải lên Sở Chỉ huy Sư đoàn họp, ủy nhiệm cho tôi thay thế tiếp tục thực hiện kế hoạch hỏa lực. Khoảng đầu giờ chiều hôm ấy, một chiến sĩ trực vô tuyến điện báo cáo với tôi:

“Có một tên yêu cầu gặp thủ trưởng!”, tôi bảo: “Nó phá rối đấy chứ gặp gì, mặc kệ nó”. Một lát sau, chiến sĩ lại báo cáo “Tên đó xưng là Trung tá Chỉ huy trưởng xin gặp Sao Hôm”. Sao Hôm là mật danh của đài quan sát chỉ huy.

Theo cách xưng hô, tôi đoán là một viên sĩ quan nên cầm máy. “A lô! Tôi là Sao Hôm đây, các anh cần gặp có việc gì?”, phía bên kia trả lời: “Tôi, Trung tá Phạm Văn Đính – Trung đoàn trưởng Trung đoàn 56 xin được gặp cấp chỉ huy cao nhất. Xin ông cho biết danh tánh và cấp bậc”.

Nghe câu nói đó, tôi nghĩ anh này chắc được huấn luyện rất chính quy ở bên Mỹ. Riêng tôi, chưa từng dự kiến đối thoại với địch nên lúng túng không biết xưng hô thế nào. Tôi trả lời Trung tá Đính: “Chúng tôi không có thói quen xưng hô tên tuổi cấp bậc với đối phương trong lúc tác chiến, anh gọi tôi là Sao Hôm là được rồi.

Tôi không phải là cấp chỉ huy cao nhất nhưng có thể trả lời những gì anh cần hỏi, nếu quá quyền hạn tôi sẽ chuyển đạt lên cấp trên”. Ông Đính nói: “Tôi đề nghị các ông dừng hỏa lực trong một giờ, chúng tôi muốn thương lượng”.

Tôi dùng điện thoại báo cáo lên cấp trên, Sư đoàn điện xuống chỉ đạo: “Anh có thể gọi họ là ông, anh bảo họ đầu hàng đi chứ còn thương lượng cái gì”. Tôi lên vô tuyến điện trả lời viên Trung tá Chỉ huy trưởng:

“Tôi nghĩ đề nghị của ông không thích hợp, các ông đã mất Đầu Mầu, Ba Hồ, Động Toàn rồi. Lữ đoàn thiết giáp lên giải vây cho các ông đã bị đánh tan tác, chạy lui rồi. Đông Hà cũng sắp mất. Chắc ông cũng đã nghe tiếng súng máy gần kề rồi. Các ông hạ vũ khí ngừng chiến đấu là tốt nhất. Các ông nên đầu hàng đi”.

Viên trung tá trả lời: “Có đầu hàng cũng phải thảo luận các điều kiện chứ”. Tôi nói: “Không cần thảo luận đâu! Ông có biết chính sách 10 điểm của mặt trận giải phóng miền Nam không?”.

Đính trả lời: “Tôi có biết”. Tôi bảo: “Chúng tôi chấp hành đầy đủ chính sách của 10 điểm đó”. Đính bảo rằng: “Nhưng tôi cũng cần triệu tập các sĩ quan dưới quyền, họ chỉ huy từng bộ phận rải rác khắp nơi và cần thời gian để họp”.

Chỉ huy Sư đoàn vẫn tập trung để theo dõi cuộc trao đổi của tôi với viên Trung tá chỉ huy trưởng, đồng thời gọi điện thoại xuống để hướng dẫn cho tôi một số thủ tục. Tôi nói với Trung tá Đính:

“Vậy thì tôi đồng ý ngừng hỏa lực trong vòng 1 giờ theo yêu cầu của ông. Còn yêu cầu của chúng tôi là ông cho kéo cờ trắng lên cột cờ trung tâm của căn cứ trước khi ngừng hỏa lực. Sau khi ngừng hỏa lực được 30 phút, một nửa số quân của ông phải ra khỏi công sự, lên mặt đất, không mang theo vũ khí”.

Ngay sau đó, Ðính tập hợp 13 sĩ quan chỉ huy của trung đoàn trong hầm chỉ huy để quyết định. Ðính mở lời trước, cho biết tình thế rất tuyệt vọng. Căn cứ không thể cầm cự trước sự tấn công liên tục của quân giải phóng. Sau đó Ðính nói ra ý nghĩ thật của mình:

“Nếu tiếp tục chiến đấu, nhiều người sẽ chết. Và nếu chúng ta có bị thương, có chết, để có được một chiến thắng, thì cũng không ai lo cho chúng ta sau đó. Chúng ta bây giờ phải tự lo lấy thân.” Tiếp theo, Ðính nói về đề nghị của chỉ huy quân giải phóng.

Sau đó ông hỏi tất cả muốn tử thủ, đánh mở đường máu, hay đầu hàng? Nếu tất cả các sĩ quan có mặt đồng ý tiếp tục đánh thì ông sẽ nghe theo ý họ. Trong số sĩ quan hiện diện, chỉ có Thiếu tá Tôn Thất Mãn – Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 1 của Trung đoàn 56 lên tiếng đòi đánh đến cùng. Số sĩ quan còn lại yên lặng không ý kiến.

Trước sự yên lặng của các sĩ quan, Ðính nói về gia đình của họ, về viễn cảnh những vui mừng khi họ được sống sót trở về. Tất cả đều đồng ý đầu hàng, chỉ có Thiếu tá Mãn không bỏ phiếu.

Với quyết định đã được đồng thuận, Ðính đi qua lô cốt của hai sĩ quan cố vấn Mỹ để thông báo. Nhưng Thiếu tá Joseph Brown và Trung tá William Camper không đồng ý. Camper đề nghị trung đoàn dùng những chiếc thiết giáp có trong căn cứ đánh bung ra vòng đai mở đường máu. Ðính không chịu, nói vô ích.

Lúc này, có một máy bay trực thăng C-47 trên đường tiếp tế đạn cho căn cứ Mai Lộc bay ngang qua đó, ghé lại bốc 2 viên sĩ quan Mỹ cùng với khoảng 30 binh sĩ không chịu đầu hàng muốn đi theo 2 sĩ quan cố vấn. Khi chiếc trực thăng cất cánh thì cờ trắng đầu hàng đã bay trên căn cứ Carroll.

Căn cứ Carroll trước năm 1968
Căn cứ Carroll trước năm 1968

Việc quyết định đầu hàng của Trung tá Đính đã cứu mạng được hơn 1.500 thuộc cấp của mình và hàng ngàn binh sĩ cả hai bên.

Như vậy, Trung đoàn 56 Quân đội Sài Gòn là tù binh. Nhưng Bộ chỉ huy chiến dịch chỉ thị cho họ được “nâng cấp” trở thành đơn vị phản chiến, được đối xử như những người lính phản chiến tự nguyện rời bỏ chính quyền Sài Gòn trở về với chính nghĩa. Những quân nhân này được bố trí phục vụ công tác và lao động ở các đơn vị hậu cần của quân đội nhân dân VN.

Sĩ quan Pháo binh QĐNDVN Hồ Văn Duyệt, bí danh Sao Hôm trong trận đánh căn cứ Carroll, người đội mũ mềm, đeo súng ngắn, đứng bên trái hàng đầu đang bắt tay trung tá Phạm văn Đính cùng khoảng 600 binh sĩ dưới quyền ông Phạm Văn Đính đầu hàng phía Quân đội nhân dân Việt Nam.
Sĩ quan Pháo binh QĐNDVN Hồ Văn Duyệt, bí danh Sao Hôm trong trận đánh căn cứ Carroll, người đội mũ mềm, đeo súng ngắn, đứng bên trái hàng đầu đang bắt tay trung tá Phạm văn Đính cùng khoảng 600 binh sĩ dưới quyền ông Phạm Văn Đính đầu hàng phía Quân đội nhân dân Việt Nam.

Trung tá Phạm Văn Đính được ra Hà Nội, nhận một số công việc liên quan đến công tác binh vận và công tác địch tình. Trung tá Ðính có lương và nhà ở, và làm việc như một sĩ quan văn phòng ở Hà Nội. Sau này, sau khi VNCH thất thủ, Ðính đã phục vụ trong công tác tuyên truyền cho Việt Nam. Một trong những công tác là làm giảng viên trường Pháo binh; giảng viên ở những trại cải tạo quân đội VNCH và trở về Huế với gia đình. Ông nghỉ hưu với quân hàm Đại tá.

Xem thêm: Quảng Trị “mùa hè đỏ lửa” năm 1972 – Mỗi tấc đất là một cuộc đời

Lịch sử Việt Nam

Việt Nam Cộng Hoà có thực sự phồn vinh?

Việt Nam Cộng Hoà có thực sự phồn vinh? Đây là một chủ đề nhạy cảm nhưng mình tin rằng đây là một chủ đề mà rất nhiều bạn quan tâm.
10

Mình hy vọng nhận được ý kiến, phản hồi, bình luận. Nếu ý kiến trái chiều, vui lòng dẫn chứng bằng số liệu khách quan. 

(*) Bài viết đề cập đến số liệu của toàn bộ VNCH và VNDCCH, không lấy Sài Gòn là tiêu chí vì bản thân Sài Gòn không phản ánh cuộc sống của toàn bộ kinh tế của miền Nam Việt Nam.

(*) Tất cả các số liệu sử dụng trong bài đều sử dụng nguồn từ thống kê nước ngoài, 90% lấy từ số liệu thống kê của phương Tây

(*) Bài viết không có ý kích động thù địch. Mà nếu có là do bạn quá nhạy cảm thôi.

Xem thêm: Chính quyền VNCH là chính quyền hợp pháp của nhân dân Miền Nam?

1. Kinh tế Việt Nam Cộng Hòa đứng thứ 2 châu Á?

Sai hoàn toàn.

– Theo Ngân hàng thế giới (WB), GDP đầu người năm 1970 của VNCH đứng thấp áp chót trong các quốc gia tiêu biểu được khảo sát với 81 USD, chỉ hơn Indonesia với 80 USD. Mức GDP này chỉ bằng 3/4 so với Campuchia, bằng 1/11 Singapore và 1/25 của Nhật cùng thời điểm.

– Thời đỉnh cao nhất GDP của VNCH chỉ đạt 118 USD/người, trong khi con số đó của Campuchia là 138 USD/1 người.

– Sang đến năm 1973 (sau hiệp định Paris), Mỹ rút quân và giảm viện trợ cho VNCH, kinh tế VNCH giảm sút chưa từng thấy. Điều này dễ hiểu vì bản thân VNCH không có nội lực kinh tế, không có sản xuất hàng hóa và phụ thuộc quá lớn vào viện trợ kinh tế và quân sự.

– GDP đầu người VNCH năm 1973 là 89 USD/1 người nhưng sang đến năm 1974 giảm mạnh chỉ còn 65 USD/1 người. Bằng 1/64 lần so với GDP Nhật Bản cùng năm. Thấp nhất châu Á và đến năm 1975.

– Kinh tế Việt Nam Cộng Hòa là nền kinh tế viện trợ đúng nghĩa, rất ít sản xuất. Các nhà lịch sử cho rằng, kinh tế VNCH thu lợi chỉ từ việc hơn 600 ngàn lính Mỹ và Đồng Minh đồn trú tại đây và chỉ tập trung tại Sài Gòn hay các tỉnh lị nổi tiếng ăn chơi như Vũng Tàu, Nha Trang, Đà Lạt.

– Tổng lượng viện trợ của Mỹ vào miền Nam Việt Nam khoảng > 10 tỷ USD vào thời giá năm 1960. Tổng chi tiêu của lính Mỹ và Đồng Minh cũng đạt con số tương ứng. Xét theo tỷ giá năm 2018, tổng viện trợ và tiêu dùng từ Mỹ và Đồng Minh đạt tới con số 145 tỷ USD. Đây là con số viện trợ kinh tế cao nhất của Hoa Kỳ so với bất cứ nước nào khác trên thế giới kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai. 

– Đến cuối năm 1974, người Hoa kiểm soát hơn 80% các cơ sở sản xuất của các ngành công nghiệp thực phẩm, dệt may, hóa chất, luyện kim, điện… và gần như đạt được độc quyền thương mại: 100% bán buôn, hơn 50% bán lẻ và 90% xuất nhập khẩu.

2. Dân Hàn Quốc, Singapore, Thái Lan phải đến làm thuê tại miền nam Việt Nam?

Đúng nhưng mà…

– Điều đó là chính xác, nhưng là đánh thuê.

– Với GDP ít ỏi, chiến tranh liên miên và nền sản xuất cực thấp, VNCH không thể tuyển các lao động từ các quốc gia khác.

– Cụm từ “làm thuê” được các lính Mỹ và tướng lĩnh quân đội Sài Gòn cao cấp chỉ quân đội các quốc gia đồng minh đánh thuê theo dạng “quốc tế viện trợ”. Binh lính, chuyên gia và người dân các nước đồng minh sang Việt Nam làm với tư cách hỗ trợ VNCH nhưng VNCH không hề chi trả lương mà đều do chính quyền các quốc gia hỗ trợ. Và rõ ràng điều đó chứng tỏ rằng luận điệu các nước khác sang làm thuê cho VNCH là sai lệch hoàn toàn.

Xem thêm: Những vụ thảm sát kinh hoàng của lính đánh thuê Hàn Quốc tại Việt Nam

– GDP đầu người thời điểm 1965 – 1975 của VNCH thuộc dạng thấp nhất nhì châu Á, thấp hơn cả các quốc gia có chung đường biên giới đất liền hay biển.

3. Kinh tế VNCH gấp nhiều lần VNDCCH?

Sai hoàn toàn.

– Trước tiên, viện trợ của VNDCCH vào khoảng 7 tỷ, tổng chi tiêu của binh lính và chuyên gia các nước CNXH là gần như không có. Con số này chỉ bằng 1/3 so với VNCH như đã nêu ở trên.

– Kinh tế VNDCCH mạnh ở khai khoáng, sản xuất thực phẩm và dệt may. Tính tổng giai đoạn 1955-1975 thì giá trị tổng sản lượng công nghiệp năm 1975 tăng gấp 16,6 lần năm 1955, bình quân tăng mỗi năm 14,7%. Hầu hết các sản phẩm công nghiệp tính bình quân đầu người năm 1975 đã đạt mức cao hơn nhiều so với năm 1955. Ở cùng kỳ thời điểm này, các chỉ số của VNCH đều giảm.

– Tổng GDP Bắc Việt Nam đã vượt Nam Việt Nam từ năm 1970, thậm chí giai đoạn này, Mỹ tăng cường viện trợ khá nhiều nhưng kinh tế VNCH vẫn thua sút nghiêm trọng.

– Tổng GDP 1972 như sau: VNCH 9,1 tỷ USD, con số này ở VNDCCH là 11,3 tỷ USD. Và đến năm 1975, kinh tế VNCH luôn đi sau VNDCCH và mức thua kém luôn duy trì trên 1 tỷ USD, tương đương 10% trị giá GDP.

– Thời điểm huy hoàng nhất của kinh tế VNCH là giai đoạn 1960 – 1963, giai đoạn này kinh tế VNDCCH bị tàn phá sau cuộc chiến tranh chống Pháp ở Bắc VN, cộng thêm việc di dân đem theo tư liệu sản xuất lớn chưa từng có vào Nam. Nhưng giai đoạn này chấm dứt bởi sự kiện Đảo chính 1963 khiến Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu thiệt mạng.

– Năm 1966 – 1967, có thời điểm tổng GDP của miền Nam Việt Nam tăng đột biến. Điều này dễ hiểu vì trong 2 năm, tổng viện trợ của Mỹ đến VNCH tăng gấp 3 so với cùng năm trước đó (1965), từ 290 triệu USD lên đến khoảng 790 triệu USD. Năm 1967 là khoảng 680 triệu USD. 

– Nhưng tại sao mức viện trợ duy trì đều khoảng 600 – 700 triệu đến giai đoạn 1973 mà kinh tế VNCH không bức lên được? Vì nền kinh tế bị bao cấp, tham nhung và bị lũng đoạn vào tay người Hoa hết. Và sau khi Mỹ ngưng viện trợ, nền kinh tế VNCH lao dốc không phanh sau năm 1973.

4. Tiểu kết

– Luận điệu kinh tế VNCH chỉ sau Nhật, đứng thứ 2 châu Á và người Hàn, người Thái sang Việt Nam là sai hoàn toàn và được chính Ngân hàng Thế giới phủ định qua biện chứng GDP đầu người và tổng mức GDP.

– Luận điệu kinh tế VNCH gấp nhiều lần VNDCCH cũng không chính xác.

– Luận điệu nếu VNCH được phát triển sẽ nhanh chóng vượt Hàn Quốc, Thái Lan cũng không chính xác khi chưa từng có bất cứ 1 thời điểm nào trong lịch sử VNCH vượt lên được Indonesia, Philippin hay Thái Lan chứ chưa dám so với Đài Loan hay Hàn Quốc.

– Luận điệu “người đi bộ giải phóng người đi ô tô” cũng sai hoàn toàn vì bản thân GDP 2 miền đã chứng minh. Không có sự quá khác biệt, thậm chí GDP 2 miền tiệm cận nhau. Sang 1973 trở đi, GDP của VNCH luôn thua so với VNDCCH.

—————————

Xem thêm: Ngụy quyền Sài Gòn không phải một chính thể, thực thể chính trị

Nguồn tham khảo:

1. Economic growth around the world from ancient times to the present day: Statistical Tables, Phần 1. A.G. Vinogradov. WP IPGEB. Trang 88-89

2. International Socialist Review Issue 33, January–February 2004. From the overthrow of Diem to the Tet Offensive. Vietnam: The war the U.S. lost

3. DIALECTICS OF URBAN PROPOSALS FOR THE SAIGON METROPOLITAN AREA. P.14 P.109

4. Economic Divergence in East Asia: New Benchmark Estimates of Levels of Wages and GDP, 1913-1970. Jean-Pascal Bassino and Pierre van der Eng. P 12

5. Andrew A. Wiest, The Vietnam War, 1956-1975, 2002, Osprey Publishing, tr. 80

6. Development Centre Studies: The World Economy: A Millennial Perspective, Angus Maddison, OECD, Paris 2001, ISBN 92-64-18998-X

7. Encyclopedia of The Vietnam War (New York: Simon & Schuster McMillan: 1996)

8. VIELE WERDEN HIER MILLIONÄRE“ – DER SPIEGEL 4/4/1968

9. Ngoài ra còn các số liệu của Ngân Hàng Thế Giới.

Tifosi

Lịch sử Việt Nam

Chính quyền VNCH là chính quyền hợp pháp của nhân dân Miền Nam?

Bài viết dưới đây sẽ giải thích rõ ràng, cặn kẽ về việc chính quyền VNCH có phải là chính quyền của chính nhân dân miền Nam Việt Nam lập nên hay không?
12

Trước tiên, nếu nói về VNCH ta phải chia ra làm 2 thời kỳ, đó là Đệ nhất Cộng hòa và Đệ nhị Cộng hòa Việt Nam:

Ta sẽ phân tích mỗi thời kỳ của VNCH để đánh giá việc chính quyền này có phải là chính quyền của nhân dân Miền Nam hay không?

Nền Đệ Nhất Cộng hòa (1955-1963)

Đây là chính phủ của Việt Nam Cộng hòa được thành lập sau cuộc Trưng cầu dân ý năm 1955 ở miền Nam Việt Nam.

Cuộc trưng cầu dân ý năm 1955 diễn ra với kết quả thắng cử gần như tuyệt đối thuộc về Ngô Đình Diệm với 98,2% phiếu bầu ủng hộ Thủ tướng Diệm lên thay cựu hoàng Bảo Đại trong vai trò Nguyên thủ Quốc gia.

Lại nói về cuộc trưng cầu này thì về phía Diệm, các cơ quan truyền thông do Diệm (lúc bấy giờ là thủ tướng QGVN) điều khiển cũng bắt đầu vận động dân chúng sửa soạn đi bầu với những bài chỉ trích hành vi của Quốc trưởng và phổ biến những câu nhắc nhở cử tri như: “Phiếu đỏ ta bỏ vô bì, Phiếu xanh Bảo Đại ta thì vứt đi”. Mỗi cử tri được phát 2 lá phiếu gồm 1 phiếu màu xanh và 1 phiếu màu đỏ.

Lá phiếu màu đỏ in hình Ngô Đình Diệm với câu: “Tôi bằng lòng truất phế Bảo Đại và nhìn nhận ông Ngô Đình Diệm làm Quốc trưởng Quốc gia Việt Nam với nhiệm vụ thiết lập một chế độ dân chủ”.

Lá phiếu xanh in hình cựu hoàng Bảo Đại thì có câu: “Tôi không bằng lòng truất phế Bảo Đại và không nhìn nhận ông Ngô Đình Diệm làm Quốc trưởng Quốc gia Việt Nam với nhiệm vụ thiết lập một chế độ dân chủ”.

Bích chương về kết quả cuộc trưng cầu dân ý tại Tòa Đô chính Sài Gòn
Bích chương về kết quả cuộc trưng cầu dân ý tại Tòa Đô chính Sài Gòn. (Ảnh Wikipedia)

Cử tri phải chọn lấy một và bỏ phiếu vào thùng phiếu. Lá phiếu kia thì vứt đi. Kết quả là số phiếu đồng ý phế truất Bảo Đại là 5.721.735 phiếu, phiếu chống việc phế truất là 63.017 phiếu và số phiếu hỏng là 44.105 phiếu.

Về phía Mỹ thì Mỹ luôn luôn hậu thuẫn và tích cực ủng hộ Diệm trước, trong và sau cuộc “trưng cầu dân ý”, ra sức chèn ép hất cẳng Pháp và phế truất Bảo Đại, tích cực đưa miền Nam Việt Nam vào khối SEATO. Mặt khác, Mỹ tiếp tục gây khó dễ cho việc thi hành Hiệp Định Geneva ở Lào gây nên một tình hình nghiêm trọng ở đây.

Ngô Đình Diệm gặp mặt phó tổng thống Mỹ Johnson tại Dinh Gia Long năm 1961
Ngô Đình Diệm gặp mặt phó tổng thống Mỹ Johnson tại Dinh Gia Long năm 1961. (Ảnh gettyimages)

Vậy chính quyền đệ nhất cộng hòa có phải là chính quyền hợp pháp của nhân dân Miền Nam Việt Nam?

CHẮC CHẮN là KHÔNG, vì sao ư? Vì chính quyền Ngô Đình Diệm được Mỹ lựa chọn, nâng đỡ(gian lận trong bầu cử) từ A-Z để tồn tại và phát triển chứ không hề được đại đa số nhân dân Miền Nam ủng hộ và bầu cho. Dẫn chứng cụ thể nhất ở đây là khi tiến hành trưng cầu dân ý ở Sài Gòn thì Ngô Đình Diệm chiếm được 605.025 lá phiếu ủng hộ trong khi khu vực này chỉ có 450.000 cử tri ghi tên.

Chính cố vấn của Ngô Đình Diệm, đại tá CIA Edward Lansdale đã từng nói rằng : “Trong lúc tôi đi vắng, tôi không muốn bỗng nhiên nhận được tin rằng ông thắng 99,99%. Vì nếu như thế thì biết đó là âm mưu sắp đặt trước”. Vì thế cho nên Diệm đắc cử với 98,2%.Trong cuốn sách CIA and the house of Ngo của sử gia Thomas L. Ahern Jr đã nói rõ việc Mỹ (rõ hơn là CIA) đã thao túng cuộc bầu cử để lập nên chính quyền Ngô Đình Diệm và cả bộ máy chính quyền của y.

Cố vấn của Ngô Đình Diệm,đại tá CIA Edward Lansdale
Cố vấn của Ngô Đình Diệm,đại tá CIA Edward Lansdale
Cuốn sách kiêm tài liệu CIA mang tên
Cuốn sách kiêm tài liệu CIA mang tên “CIA and the house of Ngo” của sử gia Thomas L. Ahern Jr

Biết rõ việc gian lận trong chiến dịch  tranh cử của Diệm, nhân dân miền Nam đã tẩy chay cuộc “trưng cầu dân ý”, các giáo phái (Cao Đài, Hoà Hảo,…), các đảng phái (Bình Xuyên, Đảng Dân chủ, nhóm trí thức Nguyễn Phan Long ở Sài Gòn, phe Bảo Đại ở Pháp) đều lên tiếng chống lại, ngay những nhóm dân chủ khác (như Đại Việt, Đảng Cộng hoà của Phan Huy Đán) vì tranh nhau quyền lợi và địa vị cũng chống cuộc “trưng cầu dân ý” của Diệm; dư luận một số báo chí ở các nước vạch rõ sự gian lận thô bỉ trong cuộc “trưng cầu dân ý”; nhưng Diệm vẫn tuyên bố “thắng lợi”, tự tôn lên làm Tổng thống, tập trung mọi quyền bính trong tay, tiếp tục kế hoạch hợp pháp hoá chế độ độc tài gia đình trị của mình.

Hậu quả của việc đó thì chắc hẳn ai cũng đã biết,nhân dân Miền Nam phối hợp với sự chi viện của miền Bắc đã tiến hành hàng loạt các cuộc đấu tranh chính trị, vũ trang nhằm chống lại chế độ độc tài gia đình trị của Ngô Đình Diệm. Cái kết là đến năm 1963, dưới áp lực quá lớn từ đại đa số nhân dân Miền Nam (từ nông dân cho đến tăng ni,giáo dân,…) và dư luận quốc tế thì Mỹ (CIA) đã giật dây cho các tướng lĩnh VNCH tổ chức đảo chính và ám sát anh em nhà Ngô Đình, kết thúc chế độ độc tài gia đình trị Đệ Nhất Cộng hòa.

Nền Đệ Nhị Cộng hòa Việt Nam (1967-1975)

Đây là chính thể dân sự của Việt Nam Cộng hòa thành lập trên cơ sở của bản Hiến pháp tháng 4 năm 1967 và cuộc bầu cử tháng 9 năm 1967. Ngày 1 tháng 11 năm 1967 được xem là ngày chính thức thành lập nền Đệ nhị Cộng hòa.

Sau 4 năm bất ổn triền miên sau cuộc đảo chính 1963(Việt Nam Cộng hòa đã liên tục trải qua hơn 10 cuộc đảo chính, 4 chính phủ lần lượt dựng lên rồi sụp đổ: Chính phủ Nguyễn Khánh, Chính phủ Trần Văn Hương, Chính phủ Phan Huy Quát, Chính phủ Nguyễn Cao Kỳ) thì cuộc tổng tuyển cử ngày 3 tháng 9 và 22 tháng 10 năm 1967 dưới Hiến pháp mới của Việt Nam Cộng hòa, Đệ Nhị Cộng hòa Việt Nam chính thức được thành lập.

Để cho đỡ tốn thời gian của các bạn thì câu trả lời cho việc Đệ Nhị Cộng hòa có phải là chính quyền hợp pháp của nhân dân Miền Nam hay không. Lí giải cho việc này là khi tiến hành tổng tuyển cử thì vào tháng 7/1967 Nguyễn Cao Kỳ đã nhận của Mỹ 5 triệu đồng để tổ chức một mặt trận tôn giáo và chính trị ủng hộ liên danh quân nhân. Thậm chí CIA đã đề nghị cảnh sát công an “vận động” phiếu cho Thiệu – Kỳ (Nguyễn Văn Thiệu – Nguyễn Cao Kỳ) nhưng cái oái oăm ở chỗ chỉ có 35% phiếu bầu cho Thiệu – Kỳ (đủ để vượt qua các ứng cử viên khác) dù số tiền đã chi có thể mang tới số phiếu bầu nhiều hơn 45%.

Lí giải cho việc này thì 1 phần(hoặc đa phần,không ai biết rõ bao nhiêu cả) đã bị ăn bớt thay vì đem đi vận động như đã bàn bạc vs phía CIA. Lúc bấy giờ Bộ Ngoại giao Mỹ đồng ý chi 3.000 USD (khoảng 20.000 USD theo thời giá năm 2010) cho mỗi đối tượng dân biểu thân Mỹ (Đại sứ Mỹ là William Bunker chỉ đề nghị 1.500 USD).

Xem thêm: Việt Nam Cộng Hoà có thực sự phồn vinh?

Qua yêu cầu của tướng Nguyễn Ngọc Loan – Giám đốc Cảnh sát quốc gia và An ninh quân đội, với sự đồng ý của Đại sứ Lodge, ngày 25-8, CIA cấp cho tướng Loan 10 triệu đồng (tương đương 85.000 USD ~ 623,8 nghìn USD năm 2017) để bù vào ngân khoản của cảnh sát mà tướng Loan đã dùng để hỗ trợ cuộc vận động tranh cử của các ứng cử viên thân Nguyễn Cao Kỳ.

Cuối cùng liên danh Nguyễn Văn Thiệu – Nguyễn Cao Kỳ đạt 35% số phiếu để đắc cử tổng thống và phó tổng thống của nền đệ nhị cộng hòa Việt Nam. Hậu quả của việc này là từ ngày 09 đến 21/09/1967, ở Sài Gòn có hàng ngàn sinh viên các trường đại học bỏ thi, xuống đường biểu tình, mít tinh, hội thảo đòi “Người Mỹ phải rút khỏi Việt Nam”, tố cáo Mỹ sắp đặt sẵn cuộc bầu cử 03/09/1967.

Nhân dân Miền Nam Việt Nam phản đối sự gian lận tranh cử của chính quyền Nguyễn Văn Thiệu và yêu cầu Mỹ rút quân về nước.
Nhân dân Miền Nam Việt Nam phản đối sự gian lận tranh cử của chính quyền Nguyễn Văn Thiệu và yêu cầu Mỹ rút quân về nước.

Ở Cần Thơ, ngày 22/09/1967, sinh viên Phạm Văn Chính – Chủ tịch Tổng hội Sinh viên Cần Thơ, tổ chức buổi Hội thảo tại giảng đường Viện Đại học Cần Thơ tổ cáo cuộc bầu cử có gian lận, và rằng “Với âm mưu khoác áo dân chủ để hợp thức hóa một thế lực thống trị không có căn bản pháp lý, cuộc bầu cử ngày 03/09/1967 chỉ là một trò gian lận nhằm xâm phạm chủ quyền dân tộc Việt Nam”.

P/S: Chính phủ của đại đa số nhân dân Miền Nam Việt Nam lập nên thời kỳ chống Mỹ cứu nước là Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam (được thành lập vào ngày 6/6/1969).

Gió Muôn Phương

Lịch sử Việt Nam

Trào lưu tẩy trắng, xét lại lịch sử tại Việt Nam – Ý đồ thâm độc

Chủ nghĩa xét lại lịch sử là một hành động nguy hiểm, biến những kẻ tấn công hay gây chiến thành những nạn nhân. Và khiến những nạn nhân thành những kẻ nguy hiểm, khát máu.
12

Chủ nghĩa xét lại lịch sử là gì?

Nói minh họa một cách đơn giản, Chủ nghĩa xét lại lịch sử là việc người Ukraine sẵn sàng từ bỏ những ký ức đẹp đẽ và hào hùng nhất về cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại của nhân dân Liên Xô – trong đó có người dân Ukraine diễn ra vào Thế chiến thứ 2. Vậy những người Ukraine đã làm gì? Họ yêu cầu phía Nga phải bồi thường vì đã giải phóng Ukraine, họ tạt nước và xúc phạm những người cựu binh già, họ phủ nhận việc lên án chủ nghĩa phát xít tại Liên Hợp Quốc. Có không ít người Ukraine bày tỏ rằng nếu Đức xâm chiếm Ukraine, thì tương lai họ có thể sẽ giàu có và sung túc hơn.

Tháng 5/2020, một số quan chức ngoại giao Ba Lan lớn tiếng kêu gọi Nga ngưng tổ chức ngày duyệt binh Chiến thắng phát xít Đức và họ vu cáo Nga là quốc gia gây ra chiến tranh bằng việc xâm chiếm rìa phía Đông của Ba Lan. Họ kết luận rằng Nga cần phải thừa nhận là quốc gia gây chiến thay vì là một quốc gia chiến thắng. 

Điều này, khiến phía Đức nóng mặt. Ngoại trưởng Đức Heiko Maas trong một bài viết vào tháng 5/2020, đã lên án mạnh mẽ việc tôn vinh chủ nghĩa phát xít và chủ nghĩa xét lại. Bản thân bài viết của Ngoại trưởng Đức cũng kết luận rằng chính Đức là quốc gia gây chiến tranh bằng cách xâm chiếm Ba Lan – chứ không phải Nga, và cũng là quốc gia phải chịu trách nhiệm về diệt chủng người Do Thái.

Chủ nghĩa xét lại là một hành động nguy hiểm, biến những kẻ tấn công hay gây chiến thành những nạn nhân. Và khiến những nạn nhân thành những kẻ nguy hiểm, khát máu.

Chủ nghĩa xét lại tại Việt Nam là gì?

Đó là việc nhân danh nghiên cứu và tìm hiểu lịch sử, rồi lớn tiếng phủ nhận lịch sử, truyền bá thông tin sai lệch về lịch sử. Một số ví dụ đơn giản, như là những luận điểm kiểu như Việt Nam Cộng Hòa, Mỹ và đồng minh không thua tại Việt Nam. Rồi phía này chỉ nhắm vào việc bảo vệ tự do, dân chủ, độc lập, còn phía Bắc Việt là những người gây ra tội ác chiến tranh. 

“Bắc Việt điều động đặc công đánh các sân bay Thái Lan có phải là một hành vi xâm phạm chủ quyền, lãnh thổ hay không? Việt Cộng không công bằng khi chỉ biết đánh lén” – Đó là câu hỏi nhận được rất nhiều luồng tranh luận trong một diễn đàn nghiên cứu lịch sử, mà người hỏi tự nhận là hỏi ngu, về các sự kiện đặc công Việt Nam tiến đánh các căn cứ quân sự, sân bay Utapao, Udon, Ubon… trên đất Thái Lan trong những năm từ 1968 đến 1972. 

Vậy, các căn cứ quân sự, sân bay đó dùng để làm gì? Đều dùng để các lượt máy bay của Mỹ đánh phá Việt Nam. Vậy hành động của phía Thái Lan lúc ấy có được coi là xâm phạm chủ quyền lãnh thổ Việt Nam hay không? Máy bay Mỹ bay từ các địa điểm đó để làm gì, nghiên cứu hải dương học hay bay chơi chơi? Thưa rằng là không. Những chuyến bay đó tiến thẳng đến miền Bắc Việt Nam, trút bom đạn xuống, bao nhiêu người dân thường thiệt mạng. Các ông ném bom đạn vào người khác thì được, còn khi người khác đột kích phá máy bay của các ông nhằm ngăn chặn hành động đó, thì các ông kêu ca là đánh lén, mất công bằng, xâm phạm chủ quyền trái phép. Khôn như thế, thì ai chơi được? 

Tháng 8/2018, nhà sử học Dương Trung Quốc nói Pháp không xâm lược Việt Nam, ông cho rằng liên quân Pháp – Tây Ban Nha mượn cớ triều đình nhà Nguyễn cấm đạo để nổ súng xâm lược Việt Nam với mục tiêu tìm đường vào Trung Quốc. Nhiều luồng suy nghĩ theo đó mà được suy luận ra, rằng chính những sĩ phu yêu nước và người dân đã quá “nhạy cảm” khi đứng lên chống lại phía liên quân. Nếu đàm phán kỹ càng thì Việt Nam hoàn toàn có thể tránh khỏi việc trở thành thuộc địa như cách mà Thái Lan đã chọn đứng giữa Pháp và Anh. Tức là bây giờ, những người chống Pháp trở thành những kẻ phàm phu tục tử, suy nghĩ thấp hèn, không biết tính chuyện đại sự. 

Nhà sử học Dương Trung Quốc cho rằng liên quân Pháp – Tây Ban Nha mượn cớ triều đình nhà Nguyễn cấm đạo để nổ súng xâm lược Việt Nam với mục tiêu tìm đường vào Trung Quốc. Ảnh: Nguyễn Đông.

Luận điểm này, khiến bao công lao, bao nhiêu tính mạng người Việt đã mất trong thời kỳ chống Pháp xâm lược Việt Nam giai đoạn đầu, trở thành những cái chết vô ích, thái quá. Việt Nam không phải là “vùng đệm” mà Pháp thích mượn thì mượn, người Việt hi sinh tại Đà Nẵng Gia Định, Huế, Hà Nội là để chống Pháp, càng không phải vì bảo vệ Thiên Triều.

Những ngụy biện VNCH và đồng minh không thua tại Việt Nam

Tờ VOA và BBC cùng cho rằng, phía Việt Cộng đánh lén, đánh du kích và không dám đối đầu với quân VNCH và đồng minh, những nhà báo của tờ này cho rằng chiến thắng của Việt Cộng là không oai hùng vì “những võ sĩ chỉ chiến thắng qua cuộc đấu tay đôi công bằng tại võ đài chứ không tại hầm mỏ với đủ loại bẫy”. Nhưng, xét công bằng, thì trang bị của Việt Cộng có ngang với phía VNCH đồng minh không? 

Một luồng ý kiến khác, cho rằng phía Việt Cộng đã chiến đấu không công bằng khi dùng nhân dân miền Nam làm lá chắn, Việt Cộng trà trộn vào dân, huy động nhân dân tham gia vào chiến tranh. Còn phía VNCH và đồng minh thì chỉ muốn bảo vệ nhân dân, bảo vệ tự do dân chủ. Vậy thì Mỹ Lai, Ấp Bắc, Bình Hòa, Phong Nhất Phong Nhị… từ đâu mà có? Bên cạnh đó, đây là cuộc chiến giữa nhân dân Việt Nam với những thế lực ngăn cản việc thống nhất Tổ Quốc, thì bất cứ thành phần nào cũng được tham gia. Chiến đấu vì Tổ Quốc không phải là việc của một nhóm người. Tổ Quốc là của chung, tất cả người dân Việt Nam phải góp vào đó, mỗi người dân là một binh lính. Như trong lịch sử, những lần kháng chiến chống Tống, Mông – Nguyên,… thì ngoài lực lượng quân đội, còn có lực lượng dân quân, nghĩa binh, người dân tộc thiểu số tham gia. 

Vừa tròn một năm, báo BBC ra xã luận nhận định rằng chiến dịch Linebacker II – mà chúng ta hay quen gọi là Điện Biên Phủ trên không, là phía Mỹ đã dành chiến thắng vì đã hủy diệt miền Bắc, khiến nhân dân miền Bắc sợ hãi và bắt ép Việt Cộng phải ngồi vào bàn đàm phán. Và người Mỹ không thua vì người Mỹ nhân từ, không muốn dùng bom nguyên tử.

Vậy thì quốc gia nào đã tung hô B52 là pháo đài bay không thể bị bắn rơi, rồi đùng cái bị bắn rơi mấy chục chiếc? Quốc gia tuyên bố ra vào không phận Hà Nội, Hải Phòng như chỗ không người rồi bị tên lửa Bắc Việt bắn rụng như thị? Rồi quốc gia nào chủ động tuyên bố chấm dứt vì phi công, binh lính “chủ động” khiến may bay bị “hỏng kỹ thuật?” Rồi ngày 22/12, quốc gia nào gửi điện mong muốn tái họp? Rồi Kissinger là người nước nào, mà chỉ dám thanh minh, xin lỗi trước Lê Đức Thọ rồi dàn xếp kí kết hiệp định trong vòng 14 ngày mà không dám yêu cầu gì thêm?

Mà thắng thì đã thắng rồi, thua thì cũng đã thua rồi, mà giờ ngồi viết bài không phục, thì vừa là vụng chèo khéo chống, vừa không dám thừa nhận, đó không phải là việc mà người quân tử thường làm. Quân tử là gì? Như người Đức ấy, thẳng thắng thừa nhận tội lỗi, không né tránh. Chứ không phải là làm những việc tiểu nhân, chẳng hạn như xét lại và đáp phân vào lịch sử.

Nghiên cứu lịch sử là đúng, nhưng nhân danh nghiên cứu lịch sử để truyền bá tư tưởng sai lệch, làm hỏng đi sự kiện lịch sử là sai. Thế hệ sau phải học hỏi quá khứ, để sống cho hiện tại và bảo vệ tương lai, chứ không phải là phán xét, tỏ thái độ, hằn học.

Một ngày nào đó, liệu ở Việt Nam có xảy ra câu chuyện tương tự như ở Ukraine, những thanh thiếu niên trẻ ném đá, chửi bới, nhục mạ những người cựu binh đã chiến đấu vì Tổ Quốc hay không?

Bổn phận thiêng liêng của các thế hệ hiện tại là lưu giữ mãi mãi ký ức về những người – đã trải qua vô số sự hy sinh, thiếu thốn, để bảo vệ tự do của quê hương, chú ý và quan tâm đến các cựu chiến binh yêu quý của chúng ta.

– Vladimir Putin

Xem thêm: “Hiện đại hóa” lịch sử: Sự thiếu hiểu biết giết chết lịch sử

Lịch sử Việt Nam

Sách giáo khoa lịch sử Anh quốc nói về chế độ Việt Nam cộng hòa

Đoạn trích bên dưới được dẫn từ sách giáo khoa lịch sử Anh quốc dành cho học sinh chương trình tú tài quốc tế (tương đương dự bị đại học) của Đại học Oxford. Chương trình được Đại học Oxford áp dụng cho học sinh đầu vào trên toàn thế giới.
12

Tình hình ở miền Nam phức tạp hơn (miền Bắc) do sự tồn tại của nhiều lãnh đạo với những chính sách và kế hoạch khác nhau nhằm ngăn chặn sự lan tỏa của chủ nghĩa cộng sản, nhưng điểm chung của xã hội dưới sự dẫn dắt của những người này đều là hỗn loạn, tham nhũng và cư xử tàn ác đối với những đối tượng được xếp vào hàng kẻ thù quốc gia.

Ban đầu người Pháp muốn duy trì chính quyền Bảo Đại như một chính phủ bù nhìn thân Pháp, nhưng sau đó Pháp đã rút lui và Bảo Đại thì quá nhu nhược. Lo sợ sự bùng nổ của cộng sản, Mỹ đã đứng ra bảo trợ cho miền Nam Việt Nam. Trong những năm cuối của cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất, Mỹ đã viện trợ cho Pháp 3 tỷ đô để chống lại Việt Minh.

Mỹ cần tìm một lãnh đạo cứng rắn hơn cho chính quyền thân Mỹ mà mình dựng nên và tìm thấy một người phù hợp là Ngô Đình Diệm, một người Công giáo theo chủ nghĩa dân tộc, người đã thể hiện sự phản kháng công khai đối với sự cai trị của người Pháp từ những năm 1930.

Dưới sự chỉ đạo của Mỹ, Bảo Đại cho mời Diệm về làm thủ tướng năm 1954. Năm 1955, Diệm hất cẳng (nguyên văn là “ousted“) Bảo Đại và thành lập chính phủ mới ở miền nam. Trong một cuộc trưng cầu dân ý được sắp đặt một cách lộ liễu, người dân miền Nam Việt Nam đã bỏ phiếu để thành lập một chính phủ cộng hòa với Diệm là tổng thống. Sự thống trị ngày càng tham nhũng và tàn bạo của Diệm đã dần khơi dậy những mâu thuẫn ở Việt Nam.

Cuộc trưng cầu dân ý năm 1955 được sắp đặt lộ liễu
Cuộc trưng cầu dân ý năm 1955 được sắp đặt lộ liễu

Xem thêm: Chính quyền VNCH là chính quyền hợp pháp của nhân dân Miền Nam?

Một trong những vấn đề đầu tiên mà Diệm cần giải quyết là sự phân chia ruộng đất. Một số nhóm cấp tiến và ôn hòa chủ trương ủng hộ phân chia lại ruộng đất để nông dân có đủ đất cày. Khi đóng chiếm miền Nam năm 1945, Việt Minh đã giúp người dân phân chia lại khoảng 600 nghìn héc ta đất, nhờ đó mà vô số nông dân được sở hữu đất, chấm dứt việc phải đóng tô.

Năm 1955 Diệm bãi bỏ điều này và bắt nông dân phải tiếp tục đóng tô. Năm 1958, nông dân bắt buộc phải mua đất canh tác với thời hạn 6 năm. Chi phí này rất tốn kém và khiến người nông dân trở nên bất mãn bởi họ đã mặc nhiên coi đó là đất của mình.

Những chính sách của Diệm cho thấy thái độ của ông ta đối với chính quyền miền Bắc. Diệm luôn sống trong trạng thái sợ hãi sự chống đối và việc bị ám sát. Ông ta rất tích cực trong việc loại bỏ bất cứ mối đe dọa nào đối với quyền lực của mình. Năm 1956, Diệm từ chối tổ chức tổng tuyển cử theo hiệp định Giơ ne vơ với lý do rằng những người dân miền Bắc sẽ bị bắt buộc phải bỏ phiếu cho cộng sản.

Diệm bỏ tù các lãnh đạo đối lập và săn lùng các thành viên Việt Minh còn ở lại miền Nam. Ông ta cũng ưu ái Công giáo hơn tôn giáo chính của đất nước là Phật giáo: chỉ có 10% dân số theo Công giáo và chủ yếu là người miền Bắc di cư vào nam trong cuộc di cư Việt Nam năm 1954. Việc ưu ái lợi ích thiểu số dẫn tới những sự bất mãn ngày càng sâu sắc với sự cai trị của ông ta và sự gia tăng của các nhóm chống đối ở ngay trong lòng miền Nam.

Cuộc di cư Việt Nam năm 1954 chủ yếu là người công giáo
Cuộc di cư Việt Nam năm 1954 chủ yếu là người công giáo

Năm 1957, những người cộng sản miền Nam, hay còn gọi là Việt cộng, đã lợi dụng sự bất mãn của nông dân để tổ chức các nhóm nổi dậy ở nông thôn và ám sát các quan chức chính phủ. Số lượng các cuộc ám sát ngày càng tăng, từ 1.200 năm 1959 tới 4.000 vụ năm 1961. Mặc dù xuất hiện những số liệu này, cùng sự phát triển không ngừng của Việt cộng và lực lượng vũ trang chính trị của nó, sự thành lập của Mặt trận dân tộc giải phóng (thành lập năm 1960 bởi Hồ Chí Minh), Diệm vẫn duy trì kiểm soát ở các thành phố và hầu hết các vùng nông thôn ở miền Nam.

Việc những người nông dân miền Nam bị cách ly khỏi làng của mình và bị dồn vào các nơi được gọi là ấp chiến lược càng khiến cho họ giận giữ. Trong khi chính quyền nói với họ rằng việc này là để bảo vệ người dân khỏi sự cướp bóc của Việt cộng và thổ phỉ, mục đích chính vẫn là để cách ly Việt cộng ra khỏi các căn cứ và ngăn chặn sự tiếp viện từ người dân. Các ấp này được đặt dưới sự giám sát đều đặn của quân đội Việt Nam cộng hòa (ARVN) để ngăn chặn sự xâm nhập của Việt cộng, nhưng chính sách này chỉ càng khiến người nông dân bất mãn hơn và thậm chí không thèm hỗ trợ chính phủ trong việc loại bỏ Việt cộng.

Ngay cả Mỹ cũng bắt đầu cảm thấy báo động bởi những báo cáo về sự tàn bạo của Diệm. Đặc biệt việc đàn áp Phật tử một cách công khai khiến nhiều người Mỹ cảm thấy kinh sợ khi họ lại ủng hộ một nhà lãnh đạo như vậy. Do đó, kế hoạch lật đổ Diệm của một nhóm sĩ quan quân đội Việt Nam Cộng hòa nhận được sự ủng hộ ngầm từ chính quyền Mỹ là điều hiển nhiên. Tháng 11 năm 1963, Diệm bị ám sát và bị thay thế bởi một nhóm cố vấn không mấy tên tuổi.

Năm 1965, tướng Nguyễn Văn Thiệu trở thành tổng thống. Nhìn bên ngoài có vẻ Thiệu mang đến sự ổn định nhưng thực chất chính quyền của ông ta cũng tham nhũng và tướng tá của ông ta cũng bất tài chẳng khác gì dưới thời Diệm. Những chính sách của Thiệu chẳng theo một hệ tư tưởng nào, mà chỉ dựa trên những nhu cầu trước mắt để chống lại miền Bắc và Việt cộng, cũng như để duy trì sự ủng hộ mình qua hình ảnh và các mối quan hệ cá nhân hơn là việc loại bỏ tình trạng tham nhũng tồi tệ mà Diệm để lại.

Nguyễn Văn Thiệu
Nguyễn Văn Thiệu

Tuy nhiên, dưới thời Thiệu, chính quyền miền Nam đã có những cố gắng trong việc cải cách ruộng đất. Vào năm 1954 có đến 60% nông dân không có đất, hơn 20% nông dân chỉ sở hữu những khoảnh đất nhỏ hơn 2 mẫu Anh (1 mẫu Anh = 4046,86 m2). Hằng năm, những tá điền phải trả khoảng 74% thành quả mà họ thu hoạch được trên mảnh ruộng mà mình canh tác cho địa chủ.

Những năm 1940 và 1950, Việt Minh nhận được sự ủng hộ của nhiều người dân miền Nam nhờ việc phân chia lại ruộng đất triệt để. Việt Minh thực hiện việc này bằng việc bắt giữ các địa chủ và bắt họ nhượng lại đất cho những người nông dân. Việt cộng tiếp tục duy trì những chính sách này và thông qua việc phân chia lại ruộng đất của những địa chủ vắng mặt, họ nhận được sự ủng hộ trung thành của những người nông dân trong việc tổ chức chiến tranh du kích.

Người dịch: Hồ Hải Yến Ngọc